Thông báo

25/082018

Bông hồng trắng cho ngày Vu Lan

MẸ

     Ba mươi năm tròn từ ngày Mẹ mất. Làm sao biết được giờ này Mẹ ở đâu? Vãng sanh tịnh độ hay đã đầu thai làm kiếp khác? Chỉ biết trước mắt con là nơi an nghỉ của Mẹ, một nấm mồ lạnh lẽo giữa rừng cây u tịch, vắng vẻ. Hài cốt của Mẹ vẫn còn nằm đó, dưới ba tấc đất, mặc cho năm tháng đi qua cùng với mưa dầm nắng dãi. Và hôm nay mùng 3 tháng Chín giỗ chạp con lại về đây, về để nhổ mớ cỏ dại, để quét lá úa rụng đầy trên mộ Mẹ và thắp nén hương tưởng nhớ về người đã sinh ra con...
 
 
     Ngày Mẹ mất con đã ngoài bốn mươi. Và hơn bốn mươi năm lẻ ấy, con tự hỏi mình đã làm gì để báo đền ơn Cha nghĩa Mẹ. Không! Không có gì cả. Ngay cả lúc Mẹ ra đi, con cũng không thể về để tang cho Mẹ nữa. Thời niên thiếu xa nhà, lâu lâu mới được về thăm Mẹ. Rồi chiến tranh đến gần, thân phận làm trai trong thời chiến đã đẩy con xa hẵn vòng tay của Mẹ. Và khi cuộc chiến qua đi, hòa bình trở lại, những tưởng sẽ gặp lại Mẹ buổi đoàn viên. Nhưng không, những ngày ấy, giữa chốn lao tù, cả lao tù trong cuộc sống ngột ngạt lẫn lao tù giữa bốn bức tường lạnh lẽo của nhà giam, con đã rời xa Mẹ mãi mãi.
 
     Mẹ vẫn sống một mình trong căn nhà trống vắng lạnh lẽo ấy - mười năm ròng rã từ ngày cha con về với ông bà. Tuổi già cô đơn đã khiến Mẹ già đi mau. Lưng Mẹ còng, mắt Mẹ mờ, tai Mẹ lảng chỉ nghe tiếng được tiếng mất. Vậy mà Mẹ vẫn tự làm những công việc hằng ngày cho cuộc sống đơn độc của mình: nấu nướng, giặt giũ, chăm sóc nhà cửa, vườn tược... Mẹ đã vượt qua những ngày hè nóng bức và mùa đông lạnh như cắt của quê nhà xứ Huế. Và ngay trong cơn bão khốc liệt năm 1985, giữa thập tử nhất sinh, may thay, Mẹ vẫn sống sót nhờ hơi ấm của đụn rơm khô ở góc nương nhà mình. Nhưng rồi cũng từ ngày ấy, Mẹ đã xuống sức hoàn toàn...
 
     Mẹ từng nói với con “nước mắt chảy xuôi”. Mẹ thương các con, cả lúc Mẹ còn thanh xuân cho đến tuổi bạc đầu. Đời Mẹ vốn cơ cực với nghề nông tay bùn chân lấm, với những gánh hàng buôn oằn vai đi về như con thoi từ làng ra Tân Hội, Mỹ Hòa. Nhưng mẹ chấp nhận tất cả, chỉ ước mong đời các con sẽ khá hơn, không phải vất vả như Mẹ. Rồi cuối đời, Mẹ đã cho hết các con những gì Mẹ đang có, kể cả những đồng tiền lẻ Mẹ kiếm được từ mớ cau trầu bán ở chợ Tây Lộc khi Mẹ tản cư vô Huế. Đó là gia tài còn lại của Mẹ, vì chiến tranh đã cướp đi của Mẹ tất cả, đã đẩy Mẹ ra khỏi ngôi nhà và mảnh vườn thân yêu. Mẹ nói “mạ già rồi, sống được bao lăm nữa, các con phải sống, các cháu của Mệ phải sống”. Ôi, có gì làm con đau lòng hơn vậy nữa?
 
     Lẽ ra con phải ở bên cạnh Mẹ những ngày tháng cuối đời. Bỏ tất cả sau lưng để về với Mẹ. Về với Mẹ, nằm bên cạnh Mẹ để nghe Mẹ kể chuyện đời xưa... Và con sẽ kể cho Mẹ nghe chuyện về những năm tháng con xa Mẹ, những tháng năm khổ nhọc cải tạo ở nông trường; kể về con dâu hiếu hạnh của Mẹ và những đứa cháu nội dễ thương của Mẹ. Nhưng con thật ích kỷ, đã vì cái gia đình nhỏ của con mà không làm được điều ấy. Hóa ra Mẹ đã nói đúng. Nước mắt vẫn chảy xuôi... Và con đã không nỡ bỏ chúng, bỏ những đứa con giữa tình cảnh khó khăn và thua thiệt chỉ vì “tội tình” của cha chúng, vì thời thế đổi dời dâu bể.
 
     Ba mươi năm từ ngày Mẹ ra đi mãi mãi... Và hơn 70 năm của đời mình, con vẫn chưa quên được tiếng ru hời ngày xưa của Mẹ, những lời ru từng đong đưa theo đôi tao võng và chiếc nôi tre... “À ơi... chiều chiều ông ngự ra câu, cái ve cái chén cái bầu sau lưng...”, “À ơi... ru con con théc cho muồi, để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu... À ơi... mua vôi chợ Quán chợ Cầu, mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh”. Và đâu đây như còn văng vẵng bên tai con những mẩu chuyện kể đầy kịch tính của Mẹ: chuyện nhà nông, chuyện đời, chuyện gái trai và cả những chuyện “ma” mà Mẹ tin rằng Mẹ đã từng gặp thời còn là con gái. Ôi những lời dẫn chuyện, cái cách diễn tả của Mẹ sao mà thu hút, mà hấp dẫn đến vậy!

 
 
     Con vẫn tin rằng chính con đã được thừa hưởng chút gì đó từ Mẹ, dẫu biết rằng con chẳng bao giờ có thể là nhà văn, nhà thơ hay nhà báo cả. Con chỉ viết ra những gì con nghĩ và chẳng để làm gì ngoài nhu cầu chia sẻ niềm vui hay nỗi buồn trong đời người, vốn ngắn ngủi nhưng nhiều khổ đau... “Đời là bể khổ”, đức Phật đã dạy chúng ta như thế từ rất lâu phải không Mẹ? Cả Mẹ và chúng con đều sinh ra cùng với chết chóc, loạn ly trong thời chiến và đầy rẫy bất an, bất hạnh lúc thời bình. Đời Mẹ đã là bể khổ, và Mẹ đã ra đi, như là đã thoát ra khỏi cái bể khổ ấy chăng?...
 
     Rồi chúng con cũng theo chân Mẹ, cũng sẽ phải thoát ra... Nhưng đi về đâu? Lên thiên đàng hay xuống âm ty địa ngục, vãng sanh về cõi Phật, đi về cõi vĩnh hằng hay lại đầu thai vào kiếp khác, trở lại thân phận làm người? Đố ai ở cõi trần mà biết được. Đố tôn giáo nào kiểm chứng được điều này! Chỉ có Mẹ ở bên kia mới trải nghiệm, mới cho con hay hành trình ra đi của Mẹ ra sao, Mẹ đang làm gì, ở đâu mà thôi. Nhưng bằng cách nào Mẹ có thể kể lại cho con nghe đây? Hay một ngày nào đó, khi gặp lại Mẹ, con mới biết được điều bí ẩn này, thưa Mẹ?...
 
     *Nguyên Đạo 
     (Mùa thu Đinh Dậu - 2017)
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin liên quan

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 19
Tổng truy cập: 623.458