Thông báo

16/052017

Hồi ký: Bắt rầy

BẮT RẦY
 
 
 
        Xa quê đã lâu, tôi chỉ về làng khi “có việc”, thường là vào dịp Giỗ Chạp tháng Chín hằng năm, tiếc là ít có dịp về vào khoảng tháng Ba âm lịch - là thời gian cuối xuân đầu hạ, thời tiết khá lý tưởng trong năm: khô ráo, vừa ấm lại vừa mát, rất dễ chịu. Ngày trước, thời gian này  ngoài đồng, lúa đã chắc hột, chỉ chờ qua tháng Tư, lúa chín là vào vụ gặt. Nông dân hãy còn thảnh thơi đôi chút. Đây cũng là thời kỳ biển lặng sóng êm, ngư dân Tân Hội, Mỹ Hòa ra biển đánh cá cũng thuận lợi, mẻ lưới nào cũng đầy ắp và dân trong làng được dịp ăn theo, cá ngon mà rẻ.
 

        Đây cũng là mùa sinh sản, rộ lên cả trên trời, dưới đất, trong nước, các giống chim chóc, các loài bò sát và sâu bọ, côn trùng, trong đó có loài rầy. Tất nhiên “rầy” nói tới ở đây, dù cùng là loại côn trùng, nhưng chẳng phải là loài sâu rầy nhỏ sống bầy đàn nguy hiểm, chuyên đi phá hoại mùa màng như thường thấy, mà là một loại khá đặc biệt đối với dân làng, nhất là với bọn trẻ, vì có thể dùng làm món "ăn thật" với cơm hay ăn chơi, dùng làm vật giải trí, đặc biệt hấp dẫn là cái thú đi bắt rầy.
 
        Bài viết này sẽ không có chủ ý đi sâu nghiên cứu loài sinh vật đặc trưng đó, mà chỉ tản mạn vài nét ký ức về kỷ niệm một thời quá khứ, ở đó những sinh vật có cánh gọi là “rầy” này được xem như một loài côn trùng khá quen mà chỉ gặp được mỗi năm một lần từ đầu tháng Ba đến cuối tháng Tư âm lịch.
 

        Thật tình hiện tôi không còn thấy hay nghe ai kể lại để biết là ở làng dạo này còn xuất hiện giống rầy này không, và con nít - kể cả người lớn - trong làng còn khoái bắt và chơi rầy như chúng tôi thuở nhỏ không. Mà chỉ nghĩ rằng có thể là chẳng còn, vì không gian và môi trường sống hiện đang ít nhiều thay đổi, đặc biệt là cây cối ở khu dân cư, trong đó có các giống tre đã mai một khá nhiều. Vài loài động vật hầu như đã di chuyển đi nơi khác hoặc biến mất. Đơn cử như đom đóm, một loài côn trùng có mùi đặc trưng, lấp lánh, lập lòe “ma quái” và ngộ nghĩnh vào ban đêm, hầu như đã không còn?
 
        Nếu vậy, các bạn và tôi, chúng ta cùng trở về “thăm” lại quá khứ nơi quê nhà, để cùng đi bắt đom đóm bỏ đầy lòng bàn tay vào buổi tối; làm thòng lọng đi “sắc ke ké” trống (tức bắt tắc kè) - với những cái đầu sắc cạnh màu đỏ tươi, ngúc ngắc, hiên ngang khoe nắng để chào buổi sáng - khi mặt trời lên; hay trèo lên tận các ngọn cây chim-chim cao để lấy trộm trứng hay chim non cà cưởng trong tổ. Đặc biệt là cùng chia nhau đi bắt rầy vào những buổi tối, ngay ở trong làng hay ra tận cồn cát ngoài biển.
 
        Nói về chuyện bắt rầy. Này nhé! Hãy hình dung bữa cơm chiều “trữa cươi” vừa dứt thì nhìn lên bầu trời chập choạng đã thấy bóng vô số những chú rầy lượn ngang lượn dọc nghe vù vù. Người ta nói ấy là lúc chúng từ dưới đất chui lên, đang tranh nhau tìm “bạn” để giao phối. Phần đông - và khá ồn ào - là những chú rầy đực - dân làng quen gọi là “rầy đà” (vì lưng có màu “đà”, tức là nâu vàng), số rất ít là rầy cái gọi là “rầy mốc” (vì trên lưng nổi đốm mốc trắng). Cả hai giống đều có kích thước bằng nhau dài chừng 5 cm,  ngang 2,5 cm, lớn hơn nhiều so với bọ hung hay rầy mè.
 
        Những đọt tre gai cao hay tre hàng giáo thấp hơn là nơi lý tưởng để các chú rầy chọn làm nơi “động phòng”. Và khi mà đám rầy đà lượn quanh rồi bu vào một đọt tre nào đó, thì biết ngay là ở đấy có một nàng rầy mốc đang chờ đợi gặp “tình quân”! Đọt tre cao quá, tối quá mà chúng tôi lại thấp quá, nên chẳng thấy được chúng đang “giao tình” như thế nào: lần lượt từng “em” hay cùng một lúc, hay chỉ có một “em” lọt vào “mắt xanh” của nàng rầy cái. Điều này có lẽ phải hỏi các nhà khoa học – còn chúng tôi thì chỉ biết là sau đó - chừng một canh giờ - cả nàng cái và bọn đực rựa đều “mê mẩn, mê man, rã rời” và chúng tôi đã dễ dàng tóm gọn chúng trong vợt, hoặc chọt cho cả “ổ” rớt xuống đất hay nắm gọn trong tay nếu leo lên được tận nơi. Bây giờ, nghĩ lại mới thấy hơi “ác” nhưng dạo ấy thì khoái tỉ vì bắt được chiến lợi phẩm.
 
        Đó là bắt rầy trong làng, tương đối khó vì chúng thường “hẹn hò” trên cao. Ra biển mới dễ bắt vì chúng thường “làm ổ” ngay trên những bụi “chứa” (dứa) vừa tầm tay. Chúng thường dính nhau thành “cục”, chỉ “lượm” và bỏ vô “oi” như bắt cua, bắt cá vậy. Nhưng đi ra tận các trằm và cồn cát biển vào ban đêm thời ấy có lúc lại khá bất trắc vì dễ lạc đường khi trở vô làng do trời tối. Mà trời càng tối, càng nhiều rầy. Có lẽ trời tối trăng mới thích hợp cho lũ rầy “hẹn hò” chăng?
 
        Dạo ấy từ làng ra tới bờ biển phải băng qua khá nhiều “cồn cát” vốn không ngừng di chuyển quanh năm theo chiều gió. Thường thì cả bọn - cả người lớn lẫn con nít - khi qua truông, mỗi người bẻ lấy chừng chục nhánh trâm bù, và khi qua khỏi “Cụp” thì bắt đầu lần lượt cắm xuống đất - khoảng cách chừng mươi, mười lăm mét một cây- để đánh dấu đường đi. Đến khi xong việc, quay về - thường khoảng 9 giờ đêm - chỉ việc bám theo các “cọc tiêu” ấy mà vào làng, khỏi lạc.
 
        Người viết bài này đã gặp tình huống xui xẻo khi cả bọn gồm mấy anh chị em và hàng xóm ra bắt rầy ngoài biển - vào khoảng giữa thập niên 1950. Không biết vì có tay nào đó chơi khăm, nhổ hết các “cọc tiêu” đánh dấu, hay do “ma đưa đường quỷ dẫn lối” mà cả bọn đã đi lạc. Không đèn không đuốc. Chỉ thấy cát vàng phát sáng lờ mờ dưới chân. Đi một đoạn, có người chợt thấy cái gì đó, lại la lên “đây rồi! đây rồi!”, hóa ra lại là đang trở về chỗ cũ. Cứ vậy cả bọn vẫn hối hả đi xà quầng, lòng vòng mãi trong đêm tối. Một chị hàng xóm lớn tuổi tỏ ra rành rẽ: “Để tui! Để tui…Ị hịa! Ị hịa! Tui cỡi quần ra "đấy một trộ"!...
 
        Rồi chị ...cỡi cái quần dài đen ra …tròng lên cổ và ngồi xuống thật! Chẳng ai có ý kiến gì vì ai nấy đều đang rất lo sợ…Có tiếng thút thít, có tiếng “mạ ơi” đâu đó…Càng về khuya, không gian tối om càng ghê rợn…Chẳng rõ cái chiêu thức "tự làm xấu mình để quỷ khỏi tha, ma khỏi bắt" của bà chị hàng xóm vừa rồi có mang lại hiệu ứng gì không. Mà rồi cuối cùng, tới nửa đêm, khi tưởng chừng như phải “đầu hàng”, thì may thay, mọi người cũng vỡ òa khi tìm thấy bụi cây đen thui, lù lù trước mặt - chính là rú làng đây rồi. Hóa ra, cả bọn đã “bị dẫn đi” lòng vòng, ngược lên tới tận bàu Bội, giáp ranh với làng trên!
 
        Đó là chuyện bắt rầy. Còn “món ngon” và thú “tiêu khiển” từ rầy thì sao? Bắt được thì với bọn con nít, chúng thường cột chỉ vào thân rầy, nắm đầu dây cho con rầy tự bay vòng quanh (theo lực ly tâm) để nghe tiếng vù vù cho đã lỗ tai. Chơi đã xong thì “thịt”. Món ngon đơn giản và tức thời nhất của bọn trẻ là lấy rau răm, muối, ớt dồn căng vào bụng rầy rồi nướng lên. Chừng nào hữi thấy mùi thơm khen khét, muốn chảy nước miếng thì bỏ vào miệng được. Đơn giản vậy thôi, dân dã vậy thôi. Còn người lớn vài nơi khác ở Trung bộ lại chế biến thành món ăn khá độc chiêu là “rầy xào kẹp lá bầu”.

 
 
        Tuy vậy, vào  khoảng cuối tháng Tư, lúc sắp kết thúc mùa rầy, cơ thể loài rầy này đã thay đổi, già đi, không còn phù hợp để chế biến các món ăn như lúc rầy còn non nữa. Không biết có làng nào, nơi nào khác từng “chén” món thịt rầy đặc biệt này không, hay chỉ ở quê mình mới có. Dẫu sao, xem ra, người miền Trung xưa nói chung, dù thường hay gặp cảnh ngộ thiếu đói, cũng không phải là dân tạp ăn. Bằng chứng là chỉ ăn thịt ếch mà không ăn thịt cóc như người miền Nam. Chỉ ăn thịt “giông” (tức kỳ nhông) mà không ăn tắc kè, rắn mối…
 
        Có điều, đi bắt rầy - cũng như đi săn bắn vậy, cái quan trọng không phải ở “chiến lợi phẩm” thu về, hay thịt rầy để ăn, mà là ở thú vui giải trí, thú vui hái lượm  và chiếm hữu…
 
        *Bài: Thảo Dân
        *Ảnh minh họa: sưu tầm
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Phùng Văn Vào lúc 11:55 - 10/06/2017 Hái na ăn https://www.youtube.com/watch?v=AqaxUPaSCRA

Tin liên quan

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 52
Tổng truy cập: 544.099