Thông báo

09/112018

Hồi ký nhân ngày 20/11


DẤU ẤN
VỀ MỘT NGƯỜI THẦY


 
 
     Trong suốt quảng đời học sinh, từ bậc Tiểu học lên hết Trung học, có lẽ ai trong chúng ta cũng có không ít kỷ niệm về những người thầy. Có những người thầy, người cô để lại những dấu ấn thật sâu đậm trong ký ức. Nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam, qua những trang hồi ký sau đây, tôi muốn tưởng nhớ và bày tỏ lòng tri ân trước hương linh của thầy, đồng thời chia sẻ với bạn đọc câu chuyện về một người thầy hết sức đặc biệt: một người thầy có tật nhưng có tài, đã để lại dấu ấn trong tôi với nét chữ viết rất đẹp mà tôi từng thừa hưởng.
 
     Dạo ấy, vào giữa thập niên 1950, sau hiệp định Genève chia cắt đất nước 20/7/1954, khi hòa bình được tạm thời lập lại, miền Nam bắt đầu củng cố tổ chức về mọi mặt từ chính trị, kinh tế, xã hội đến văn hóa, trong đó có giáo dục. Ở làng Kế Môn, lúc này mới chính thức mở ra các lớp bậc tiểu học. Thầy Cơ, cô Yến, thầy Đẩu,... là những tên tuổi thầy giáo, cô giáo quen thuộc còn khắc ghi mãi trong ký ức tôi.
 
     Lớp học của thầy Cơ, cô Yến là căn nhà tranh nền đất, vách nứa ở xóm Bến Đình, học trò đi học phải mang theo ghế để ngồi vì lớp không đủ ghế và... chỉ có một chiếc bàn nhỏ duy nhất dành cho thầy, cô giáo. Ấn tượng từ thầy Cơ là cho điểm 5 xoáy từ trên xuống hệt như con giun, và chỉ điểm 5 là điểm tối đa. Cô giáo Yến, người có dáng vóc mảnh mai, da trắng, nghiêm nghị, ít cười nói, sau đó thay thế thầy Cơ, nhưng chỉ dạy chúng tôi vài tháng rồi bỗng... biến mất. Sau này lớn lên tôi mới hiểu lờ mờ ra cớ sự và cảm thông cho hoàn cảnh của cô, cũng vướng vào tình cảnh như một số phụ nữ khác ở trong làng vào thời ấy.
 
     Rồi khi lên học lớp Ba ở nhà tăng bên cạnh Chùa làng (cũ), kế đến chuyển qua trường xã Phong Hương, hai thầy giáo mà tôi gắn bó nhất ở đây là thầy Giai, đặc biệt là thầy Kiện, tên đầy đủ là Tô Thành Kiện, người xứ Truồi. Sau đó khi xuống học lớp Nhất ở trường làng Đại Lộc, tôi mới gặp thầy hiệu trưởng Trương Minh Đài. Mỗi thầy giáo, cô giáo đều cho tôi những kỷ niệm khó quên. Vậy mà, trong số ấy, ấn tượng với tôi nhất lại là một người thầy khá đặc biệt về ngoại hình. Tôi gặp thầy vào thời gian tôi bỏ trường công sang học tạm trường tư. Đó là thầy giáo Ngật - mà có lẽ nhiều người làng thời ấy đều biết.
 
     Thầy Ngật - tên đầy đủ của thầy là Nguyễn Đăng Ngật - người làng Cỗ Lũy, huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Không biết cơ duyên nào đưa đẩy thầy vào làng Kế Môn và mở lớp dạy tư bậc tiểu học các lớp từ vỡ lòng đến lớp Ba. Thầy ở trọ nhà O Mão chuyên nghề làm đậu hũ, sát đường Cấy đầu làng và lớp học “hổn hợp” của thầy (gồm ba lớp) cũng ở đây, ngay trong nhà trọ. Sau này, có lẽ vì học trò đông hơn, nhà chật, thầy chuyển xuống dạy trong căn nhà hội rộng rãi trước từ đường của họ Đặng.
 
     Nếu ai đã từng đọc cuốn tiểu thuyết “Notre-Dame de Paris” của văn hào người Pháp Vicrtor Hugo (1831), hay xem phim “Thằng Gù Nhà thờ Đức Bà” (1996) hẵn sẽ thấy vóc dáng của nhân vật chính trong phim (chàng Gù) y hệt như vóc dáng của thầy Ngật lúc bấy giờ. Chỉ khác là khuôn mặt thầy sáng sủa, sắc sảo và “bảnh trai” hơn.
 
     Tôi là một trong các học trò đã từng trực tiếp dội nước tắm và kỳ cọ rất cẩn thận trên cái lưng gù của thầy bên giếng nước từ đường họ Đặng, nên tiếp xúc khá gần gũi vóc dáng đặc biệt này và nhận ra hẵn là thầy mang tật bẩm sinh. May thay, có lẽ khi ông trời đã lấy đi của thầy vóc dáng của một người bình thường, ổng đã bù lại cho thầy một tấm lòng nhân ái, đi kèm với cái tài: đó là tài ăn nói văn hoa lưu loát và đặc biệt, chữ viết của thầy thì không chê vào đâu được khiến ai cũng phải nhìn nhận là “đẹp tợ như in”!
 
     Ngày nay chuyện chữ viết đẹp xấu thường ít ai quan tâm - thậm chí ở bậc tiểu học ngày nay, thầy cô chỉ ưu ái cho một số rất ít học sinh có “năng khiếu” để luyện chữ đẹp - bởi đa số học sinh, nét chữ không còn được nắn nót đậm lạt bằng ngòi bút lá tre chấm mực nữa, mà hiện đại hóa bằng nhiều thứ bút và mực khá đa dạng như bút máy, bút bi, hay bút lông đủ loại, đủ cỡ từ nét nhỏ “lông kim” đến nét vừa, nét to,... Còn ngoài xã hội, viết sao “đọc ra chữ” là được, chẳng hề câu nệ đẹp xấu. Thậm chí viết láu như “chữ bác sĩ” kê toa cũng chẳng bị ai chê.
 
     Ngày xưa thì khác, chữ viết - dù là chữ quốc ngữ hay chữ Hán trước đó - đều rất quan trọng. Nó phản ảnh tính nết, tư cách của một con người: người đứng đắn hay ba xạo, người cẩn thận hay cẩu thả... Nó cũng có thể phản ảnh tính chất nghệ sĩ, tài hoa của người viết. Cho nên ngày xưa có những ông đồ được tôn vinh bởi chữ viết của họ bay bướm, phóng khoáng, lả lướt nom tợ như “rồng bay phượng múa” là vậy.
 
     Chính chữ viết của thầy Ngật đã ảnh hưởng sâu đậm lên nét chữ của tôi từ ngày ấy, hay nói khác đi là tôi đã nhanh chóng “bắt chước” được chữ viết của thầy. Dần dà tôi trở thành “phụ tá” của ông, phụ trách viết bài học cho các em học sinh các lớp vỡ lòng và lớp dưới thay ông. Tôi trở thành “học trò cưng” của thầy từ đó, và đôi khi “được nước” lại sinh ra tự phụ, nhõng nhẽo. Trong khi đó thì thầy Ngật, tuy con người tình cảm nhưng lại rất nghiêm khắc với học trò và khá nóng tính. Ông thường xuyên sử dụng cây roi tre và cái thước gỗ vuông dài để răn đe học trò.
 
     Một hôm buổi sáng chào cờ, đang sắp hàng đứng hát quốc ca, thấy cậu học trò đứng bên cạnh tôi đưa tay gãi đầu, thầy tiến đến quất mạnh cây roi nhưng không trúng hắn ta mà lại trúng vào tay tôi. Tôi giận dữ, lập tức bỏ ra khỏi hàng và chạy thẳng một mạch lên rú mặc cho mọi người đang đứng nghiêm hát quốc ca và tiếng thầy gọi giật từ phía sau. Mãi đến xế chiều, theo “lệnh” của thầy, đám học trò mới tìm thấy tôi và bắt tay kiệu để khiêng tôi về! Lạ thay, ngồi vào bàn học tôi thấy trên cuốn tập để mở của tôi trước mặt: một bài chính tả do thầy tự viết thay tôi và cho điểm 10 bằng mực đỏ lên đó!
 
     Xui thay, chính cái tính quá nghiêm khắc và nóng nảy ấy của thầy mà một tai nạn nghề nghiệp đã xảy ra. Thậm chí xem như một... tai họa, một bước ngoặc trong đời dạy học của thầy. Ấy là lúc thầy đang dạy ở nhà hội họ Đặng. Thời gian này tôi không còn học với thầy nữa nên không chứng kiến sự việc. Chỉ nghe kể lại rằng ông đã vô ý quất roi trúng một học sinh, lỡ gây thương tích, dù nhẹ nhưng đã bị phụ huynh - một vị có chức sắc và uy tín ở làng thời ấy - phản ứng khá bất ngờ, khiến thầy bị tổn thương. Có thể nói đây là “bài học nhớ đời” đối với thầy. Ít lâu sau đó tôi nghe nói, có lẽ do bị mặc cảm, thầy đâm ra buồn rồi quyết định từ biệt làng Kế Môn và trở về quê nhà Quảng Trị. Từ đó, ở xa quê và chiến tranh loạn lạc, tôi không còn nghe ai nói gì về thầy nữa...
     ...
 
     Hơn hai mươi lăm năm sau... khoảng 1985, khi tôi về Vĩnh Long cùng người bạn học cũ đồng hương đang lập nghiệp tại đây để... tìm đường ra đi, tình cờ tôi nghe vợ bạn nhắc đến tên thầy Ngật. Thật ngạc nhiên. Hỏi ra mới biết hai vợ chồng bạn từng có mối quan hệ khá đặc biệt với thầy lúc còn ở Quảng Trị. Thời gian này, nghe nói thầy đang còn sống. Chưa kịp liên lạc được với thầy thì sau đó vài năm tôi nghe tin là thầy đã mất, nhưng không biết tại sao mất, ở đâu và chính xác vào thời điểm nào. Được biết thầy cũng lập gia đình ở đó và có một người con trai, nhưng hiện không biết đang ở quê hay phương trời nào.
 
     Vợ chồng bạn cũng cho hay chính thầy Ngật đã mai mối cho cuộc hôn nhân của họ khi cô dâu thuở ấy lại là người cùng làm việc với thầy tại Ty Thủy Nông Quảng Trị trước năm 1975. Thế mới biết, thầy chẳng “mát tay” khi làm thầy giáo với cây roi trong tay nhưng lại rất “mát miệng” khi làm một ông mai. Bởi vợ chồng bạn sau này sẽ thành đạt trong kinh doanh và có cuộc sống gia đình hạnh phúc thật trọn vẹn. Tôi ước gì thầy còn sống để thấy được điều may mắn ấy. Nhưng không, thầy đã ra đi, chẳng bao giờ có thể thấy được... Và gần 60 năm sau, vào lúc này, thầy cũng chẳng bao giờ đọc được những trang hồi ký này của một học trò viết ra để nhớ về thầy...
 
     *Nguyên Thanh - 2018
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin liên quan

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 8
Tổng truy cập: 731.451