Thông báo

15/032017

MẦN RỌN THUỞ XƯA

      *Giới thiệu:
       Nghề nông, đặc biệt về nghề làm ruộng (tức trồng lúa nước) ở ta, hơn năm thập niên qua đã tiến một bước khá dài nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật. Từ công đoạn làm đất, gieo cấy, thủy lợi, phân bón, trừ sâu, đến thu hoạch, chế biến sản phẩm đều được hiện đại hóa bằng máy móc. Để có cái nhìn so sánh với nghề làm ruộng thuở xưa, đặc biệt ở làng quê Kế Môn, website langkemonsaigon.com xin giới thiệu bài viết sau đây của một tác giả đồng hương, tản mạn đôi chút về cái nghề “chân lấm tay bùn” này - qua lời kể khá là mộc mạc, dùng rặt phương ngữ của làng, từng được gọi là “đặc ngữ Kế Môn” - để các bạn đọc trẻ hiểu thêm về cái nghề của cha ông mình, đồng thời cũng xin tặng các bạn già ở thế hệ U70 để hoài niệm về một thời niên thiếu nơi đồng quê xưa.
 
KỂ CHUYỆN VỀ
MẦN RỌN THUỞ XƯA
 
      Ai cũng công nhận là “mần rọn” ở làng "thời ni" quá khỏe. Khỏe đủ thứ. “Ai đời” 7, 8 giờ sáng rồi mà vẫn chưa chộ bà con bước ra khỏi “chờn”, nói chi tới ra đồng, ra rọn. Thuở xưa, phải thức dậy từ gà gáy canh ba, trễ lắm là canh tư, lúc trời chưa sáng. Ra tới đồng chỉ mới chộ lờ mờ. Đó là mới nói chuyện mần rọn gần ở trong làng, còn khi phải mần “rọn ngoài tê”, xa xuôi miệt Đồng Dương, Diên Khánh thì còn phải dậy từ canh hai. Ăn uống no rồi thì mau mau vác cuốc, vác “rấp”, vác “gióng", vác "đùng triêng” và đủ thứ cuốc bộ ra đồng, hoặc mần rọn “đàng ngái” thì xuống “tròng”, xuống “nốốc” đậu sặn ở mấy bến. Tròng nốốc ni thường là thuê của bà con đưới bến. Chở ít thì thuê tròng, chở “hung” thì thuê nốốc, rồi ai thuê thì cứ việc tự chèo lấy.
 
      Chuyện đi ra thì như rứa. Còn chuyện về, thời “bi chừ” chưa “tắt mặt trời” đã về tới nhà. Xưa thì đừng hòng. Xong việc, trời đất đã túi om, về tới cựa ngọ dòm vô đã chộ “đỏ đèn” rồi. Mùa nắng ráo thì còn đỡ, chứ mùa mưa gió lạnh lẹo thì cực biết chừng mô mà kể. Đó là nói chuyện bình thường, còn khi gặp khô hạn, ban ngày trời nóng như “lã đốt” thì phải mần bù ban đêm, có trăng thì đỡ, không trăng thì phải nhờ sao côi trời mà lần. Còn nữa, gặp mùa hè khi nát mặn bò lên tới rào thì dù có khuya khoắt cỡ mấy, dân làng cũng phải ba chưng bốn cẳng “tức tốc” ra “bợt rào” mà canh mà “chự”, khôn thì “bể bợt, nát mặn tràn vô rọn, ló chết”. Nhớ lại, nông dân thời nớ thiệt là khổ, mần ngày chưa đủ, phải mần cả đêm cả hôm, “gió táp mưa sa” mà chẳng nề hà chi mô cả.
 
      Ấy là chuyện đi đi về về, ai cũng phải như rứa cả, phần vì ham công tiếc việc, phần vì phải ráng mần cho kịp thời kịp vụ, mần để chự cây ló, để khỏi bể nồi cơm. Còn cách “mần rọn ra răng” thì lại là chuyện khác nữa. Thời bi chừ, nói “vại má, dổ má” có người không biết, thậm chí “cấy ló” thì gần đây cũng ít chộ. Vì có dổ, có cấy chi mô mà biết! Bà con ta nay chỉ có vại hột giống xuống đồng tới khi cắt thôi, cũng không khác với Nam bộ lục tỉnh xưa nay - cái xứ rọn cò bay thẳng cánh nớ - là mấy.

 

Dổ má


Cấy ló
 
      Thời trước, để có hột ló, nông dân phải mần nhiều công đoạn: ngâm giống rồi đem vại, không phải vại thẳng xuống rọn mà vại “côi trưa”, không phải cứ vại tràn lan mà vại lên từng “vồn” hẵn hoi. Người lớn vại xong, “nờn bà” và bọn con nít, cầm “chổi trèn” đập đập thiệt đều tay cho hột giống ghim xuống bùn. Vại xong, chừng tháng sau khi má lên, chộ “bưa” thì dổ, bó thành từng bó nhỏ rồi “sương” cả ra đồng, nơi mà rọn đã cày bừa sặn để chờ cấy. Mùa mùa thì thường cấy tháng Chạp, mùa trái thì cấy chừng tháng Năm. Cấy ló thường là công việc của mấy o, mấy mụ nờn bà. Rọn ít thì vài ba người, rọn diều thì phải cần tới mươi-mười-lăm người mới cấy kịp, không thì má khô. Mùa cấy ni thường thì kéo dài cả tháng, tội nghiệp, mấy o mấy thím cứ “chùm hum” ngoài đồng, còng cả lưng, sưng cả tay.

      Cấy xong rồi phải lo “trổ nát” hoặc là “tát nát” vô rọn. Trổ nát là trổ ngõ, là xắn “bợt giường” ra cho nát ngoài hói, ngoài rào chảy vô rọn khi “nát nậy”. Còn khi nát cạn, rọn khô thì phải tát. Rọn ít, nhà nghèo thì tát bằng “rấp”, một thứ gàu đan bằng mây hay tre có cán dài, khi tát thì treo đưới chạng của ba cơn tre hàng giáo, cho một người tát là đủ. Nhà giàu, rọn nhiều, nhứt là khi nát “côi rọn đưới hói” quá chênh thì phải dùng một loại “xe đạp nát” bằng “săn” với 1 hay 2 người cùng đạp. Ít chộ ai ở làng tát bằng gàu giai như ở các xứ cả. Có những năm khô hạn về mùa trái, ló cấy xuống, thiếu nát, đất rọn nứt nẻ, ló non khô héo, nông dân “thở vắn than dài” cầu mưa, coi thiệt là thảm.

 

Tát nát rấp


Xe đạp nát
      
      Nói tới mần rọn thuở xưa thì cực nhứt là chuyện cày bừa, mần đất. Thời bi chừ, cày và bừa đã có máy, mần vừa mau lại vừa kỹ. Trước thì không được như rứa. Cày rồi bừa đều phải lụy tới con trâu cái cày. Nó đúng là “đầu cơ nghiệp” của nhà nông chơ còn ai vô đó. Nhưng không phải nhà mô cũng có trâu, với ai cũng nhiều rọn. Đếm đi đếm lại, cả làng chỉ có chừng hơn chục con trâu là nhiều. Nhà nghèo, rọn ít thì phải dùng sức mà cuốc, kêu là “cuốc rọn”. Thường là dùng “cuốc 5 chỉa” cáng dài, cuốc lật lên từng lát đất để phơi, kêu là “cuốc đi”, dăm bựa nửa tháng phải “cuốc lại” để xé nhỏ miếng đất ra. Đây cũng là lúc phải tận dụng sức lao động của bọn  con nít và học trò. Nhiệm vụ của bọn ni là cứ theo sau người cuốc, dùng hai bàn chưng để đạp, để “xắng” cho đất “bể mụn” ra, kêu là “đạp rọn”.
 
      Người kể chuyện ni, thời niên thiếu cũng đã từng cuốc rọn và đạp rọn có “tay nghề” hẵn hoi, thường cùng với ông thân sinh và anh trai ra đồng làm công việc đồng áng như người lớn. Điều ấn tượng ghi lại trong ký ức người kể là cảnh sáng sớm lúc mới ra rọn, chộ mậu rọn trước mặt “mênh mông như xứ” mà ngao ngán và…rùng mình. Lẽ ra rọn nhiều thì phải mừng cho nhà mền chớ. Rứa mà khôn! Rồi chiều túi, khi cuốc tới gần hết rọn, tới “lát cuốc” cuối cùng thì ui chao, thở phào một cấy, nhẹ người biết chừng mô mà kể!

 

Cuốc rọn


Cày trâu


Bừa
 
      Chưa hết, rọn cấy xong gần trổ đòng đòng lại phải mần cỏ, sục bùn. Cũng “chùm hum trữa trời” nắng mưa, dùng cả hai bàn tay quơ quào cỏ dại theo từng hàng từng lối trữa các bụi ló. Không phải như bi chừ chỉ cần phun thuốc diệt cỏ ào ào là xong việc. Rồi lại tới công đoạn vại phân. Phân đây thường là phân chuồng, tức  phân heo nhào với rơm tót mục, đã ủ cho hoai đi, vại lên cho đất, cho ló tốt thêm, không phải như thời bi chừ chơi toàn phân hóa học, tuy khỏe mà lại dệ chai đất, sinh ra “dớp rào dớp hói”. Thời nớ mần chi mà có thuốc nầy thuốc nọ để trừ sâu bệnh, chỉ nhờ tới ông trời thôi. Nhiều năm mất mùa vì sâu rầy thì cũng phải “cắm răng” mà chịu.
 
      Rồi nếu năm mô mưa thuận gió hòa, thì ló lần lần “tượng đòng đòng” rồi trổ bông, ngậm sựa và ra hột, từ hột non tới hột tra, cho ra những “chẹn ló” mới sực mùi…đồng quê dân dã. Tới khi dòm ra đồng chộ một màu vàng thì biết là ló đã chín và tới mùa cắt. Mùa cắt ở làng là mùa rộn ràng nhứt hạng. Thường là cắt “vần công” lần lượt từ “dà ni tới dà tê” cho kịp vụ. Hồi xưa cây ló cao nên chỉ dùng “vằng” cắt lấy chừng 8 tấc phần trên, sau thành “rơm”, phần còn lại, sau nầy dùng liềm để bức gọi là “tót”. Bình thường là rứa, còn năm mô mùa trái gặp gió bạo, lụt lội, “ló bổ” nằm rạp “năm phương tám hướng” hay nát lút đầy đồng thì thiệt là khó cắt, phải “trần ai khoai củ” mới khuân được ló về nhà.
 
      Nhưng hình ảnh ấn tượng nhứt về mùa cắt xưa là từng đoàn trai tráng rần rần sương ló về từ ngoài rọn hay đưới mấy bến vô tới nhà. Những bó ló  “đại chang” nặng chịch lại được đung đưa một cách “dẹ dàng” ở hai đầu chiếc “đòn xóc” bằng tre gai “cứng dư sắt” nằm “côi bai” của mấy chú nông dân. Họ về tới nhà, đổ xịch 2 bó ló đầu tiên “côi cươi” rồi một tay cầm cái quạt mo phe phẩy, tay tê cầm cuốn bánh-tráng-đường-đen to bằng “cột tay”, nhai lấy nhai để một cách ngon lành. Xong, uống ực một đọi nát chè xanh trước khi quây ra đồng sương ló tiếp. Hình ảnh nầy nay không còn nữa mà thay vô là những chiếc xe bò dềnh dàng, chầm chậm kéo ló trên đàng bê tông, chộ có vẻ ể oải và im ắng thiệt sự.

 

Cắt ló
 

Sương ló về
 
      Chưa hết, tới công đoạn cuối cùng là “đạp ló”, phơi ló cho “khén” rồi “dên ló” để loại bỏ hột xép ra. Nếu ló ít thì đạp bằng chưng, ló nhiều thì đạp bằng trâu. Đạp bằng chưng thì lấy một cơn tre dài cột nằm ngang mần điểm tựa cho hai tay, còn hai chưng cứ việc cuốn, đè, chà, đạp dánh ló đưới chưng cho tới khi hột rời ra hết. Tức nhiên phải đạp bằng chưng trần và lòng bàn chưng phải chai, phải cứng mới chịu nỗi. Còn đạp bằng trâu thì phải mở lạt từng bó ra, xếp ló theo vòng tròn côi cươi, tùy cươi rộng cươi hẹp, ló nhiều ló ít mà đạp hai trâu hay một trâu. Dòm chộ cũng đơn giản: một người cứ đắt con trâu đi lòng vòng côi ló mãi, lâu lâu lại cho trâu nghỉ xả hơi, lúc đó thì một tốp khác phải mau chóng lấy đòn xóc để lật trở ló từ đưới lên. Đạp như rứa thường từ xế chiều cho tới túi mới xong. Và rơm được xóc, được cào ra một bên chỉ còn chộ ló hột nằm lại côi cươi mà thôi.
 
     Hình ảnh ấn tượng nhứt khi trâu đạp ló là tình huống “trâu ẻ” khi đang đạp. Dấu hiệu trâu sắp ẻ thường là nó cong đuôi lên. Tức thì người đắt trâu phải báo động liên hồi “trâu ẻ, trâu ẻ”… Và ai đó đứng chực bên ngoài phải mau chóng cầm “đúa” chạy tới kê vô đít trâu để “hớn”, kịp lúc “chất thải” phun ra. Báo hại, có lúc c…phun mạnh quá, văng lên cả mặt mày, quần áo người cầm đúa. Lại có trường hợp chưa ai kịp chạy vô hớn, người ta đành phải dùng “giải pháp tình thế” là kéo đuôi trâu xuống đè lên bít tạm "lỗ" lại… Nhưng rồi cũng không “giải quyết” được chi. Cuối cùng thì cũng phải cúi xuống ló mà …hốt!
 
      Rồi thì rơm tót mùa cắt được phơi đầy cả ra đàng, trong nương và ngõ ngách mô cũng có, để rồi rơm được xây lên thành “đụn”. Côi cươi thì dành hết để phơi ló. Mùa hè nắng nóng thì ló mau “khén”, mùa mưa gió thì phải phơi lâu hơn. Công việc phơi ló thường phân công cho bọn con nít và nờn bà. Họ cứ “trang, cào, trở” nhiều bận cho tới khi ló khén rồi mới đem “dên”. Ít thì dên bằng tay với thúng, "mủng" đưới xóm khi trời gió, nhiều thì dên bằng "máy quạt" kêu là  “cụi” đóng bằng săn, quay tròn cánh quạt bằng tay. Cuối cùng, ló “thành phẩm” được lường bằng cái “thúng lường” tròn trịa và đổ vô bồ. Thường thì cứ dòm vô đụn rơm hay bồ ló là có thể đoán ra ai giàu ai nghèo rồi.

 

Dên ló bằng tay
 

Cụi dên ló
 
      Nói túm lại, mần rọn thuở trước thiệt là quá cực nhọc. Cấy chi cũng phải lấy sức ra mà “lăn”. Sức yếu thì không mần răng kham nỗi. Mà năng xuất ló thì lại kém, được mùa thì một “mậu” cao lắm cũng chỉ được vài “lương” thôi. Chưa nói mùa màng lại quá phụ thuộc vô ông trời. Có năm được, có năm cũng mất mùa trắng. Bi chừ mần rọn thì quá khỏe, đã có máy móc, xe cộ thay cho tay chưng cả rồi. Mà năng xuất mấy giống ló mới ni lại cao. Có điều so ra, ngày trước cấy chi bà con cũng tận dụng được, phân bón thì lấy từ phân heo phân gà pha thêm rơm rạ cây lá trong nương, lấy từ “tro trú” mà mần. Rau lang, cám, chuối thì để nuôi heo, heo lại cho ra phân bón…một cái vòng tròn xoay xở thiệt là hợp lý. Nên mần rọn thuở trước, trừ rọn ngoài tê phải thuê, còn trong làng thì chẳng bỏ ra một đồng vốn mô cả.
 
      Bi chừ thì ngược lại, cấy chi cũng phải thuê, phải trả tiền cả. Thuê máy cày, máy bừa, máy cắt, xe kéo, máy bơm,…Mua xăng dầu, mua điện, mua hột giống, phân bón, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu,…Nghĩa là phải mua tất tần tật. Nên tiếng là năng xuất cao, nhiều ló, mà trừ đi chi phí thì còn lại chẳng bao nhiêu. Đó là chưa nói tới các loại phân, thuốc hóa học – kêu là thuốc bảo vệ thực vật – gây ra ô diễm đủ thứ, nguy hại “dữ dằn” cho sức khỏe con người,  tiêu diệt cả sự sống của “cá mú” và các sinh vật khác trong đất, trong nát.
 
      Để kết thúc câu chuyện “mần rọn thuở xưa”, xin nêu một câu hỏi có vẻ như ngoài lề. Rằng trên thế giới, đọc báo chộ hiện có vài ba nước muốn loại bỏ hết cả xe cộ chạy bằng xăng dầu để chỉ đi bằng xe đạp. Phải chăng điều mà, thoạt nghe có vẻ ngây ngô nớ, lại là một tín hiệu xanh về một thế giới ngày mai của con người quay lại với thiên nhiên, với một cuộc sống không quá phụ thuộc vô khoa học kỹ thuật - vốn là “cái đao hai lượi”. Chính nó đã mang lại văn minh cho thế giới loài người nhưng cũng có thể, một ngày mô đó, cũng chính nó sẽ hủy diệt cả thế giới nầy trong chốc lát?
 
      *Bút ký: Thảo Dân
      *Ảnh minh họa: sưu tầm
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

hoàng ngọc phúc Vào lúc 08:53 - 18/03/2017 lời văn hay ,ảnh đẹp .đúng với thổ ngữ ngoài mềm ,mình cũng từng đi cắt ló ngày 21 hộ đã gọi ăn cơm ngày 20 ,ăn xong qua cồn ngồi đợi mãi trời chưa sáng bù mắt nó cắn cho sưng mặt ,sưng cẳng luôn

Tin liên quan

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 53
Tổng truy cập: 506.053