Thông báo

30/062017

Nghĩa trang làng Kế Môn

CÂU CHUYỆN VỀ
NGHĨA TRANG LÀNG KẾ MÔN
 
 
      Thời gian gần đây, trên mỗi cáo phó, dù người quá vãng ở làng hay ở phương xa, đều có viết câu “an táng tại nghĩa trang làng Kế Môn”. Nhiều người thắc mắc: làng Kế Môn có nghĩa trang sao?
 
      Thật ra, nói “nghĩa trang” là để cho mọi người dễ hiểu, dễ hình dung, chứ thật ra đây là đất rừng nguyên sinh từ xa xưa, ít nhiều có tính chất phòng hộ cho khu dân cư và đồng ruộng bên dưới. Chính xác hơn gọi là “rú” vì cây cối thưa và thấp - mà rú này lại nằm trên độn cát nên phải gọi là “độn rú” mới phải. Do rừng cây phân tán và thấp, hở nhiều khoảng trống, nên ông bà tổ tiên xưa đã tận dụng để làm nơi chôn cất người chết.
 
      Lúc sơ khai, thời kỳ đất còn bao la rộng rãi, họ nào cũng dành lấy một khu vực riêng để chôn cất người trong họ mình. Thường thì mộ Tổ họ nằm chính giữa rồi con cháu nhiều thế hệ cứ vậy nối tiếp vây quanh ngày càng phình rộng ra. Những khu vực này dân làng quen gọi là “lum”, như lum mả họ Nguyễn, lum mả họ Trần, lum mả họ Đặng vv…Làm như vậy có cái lợi là họ nào ra họ nấy, dễ tìm ra mộ, vì ngày xưa, mộ thường đắp bằng cát, và chỉ những mộ của nhà giàu hay quan quyền mới có bia (thường là bia đá) nhưng số này chỉ đếm được trên đầu ngón tay, còn hầu hết thì không, chỉ trồng hai cây "chừng" trên đầu và dưới chân để đánh dấu mà thôi.
 
      Càng về sau, do số mồ mả tăng lên, khu vực họ này phình ra chạm tới khu vực họ kia, rồi dần dần hiếm đất phải tiện đâu chôn đó, không còn ranh giới gì nữa. Cho nên mồ mả, dù thời kỳ này đã được kiên cố hóa và đã có bia, có tên tuổi hẵn hoi, nhưng vì nằm lẫn lộn họ này với họ khác khiến con cháu đi chạp mộ phải “đi ngược về xuôi” khá vất vả và dễ bỏ sót vì độn rú khá dài, rộng và địa hình tương đối phức tạp. Chuyện thay đổi này có lẽ đã bắt đầu xảy ra từ đầu thập niên 1960 khi hòa bình mới tạm thời được lập lại.
 
      Sau ngày đất nước thống nhất, đặc biệt từ đầu thế kỷ 21, có hiện tượng “giữ đất” đi kèm với “hội chứng mặt tiền”, nghĩa là lấy đất sẵn để dành (xưa gọi là đắp “mả gió”) nhưng phổ biến hơn. Đặc biệt mộ thường lấy ở ven các lối đi như các truông, các đường cặp theo các bàu, các đồng khoai vv…nơi vốn bị người xưa chê là dễ “động” tới mồ mả, không nên, nhưng nay lại tiện cho con cháu thăm viếng vì dễ tìm và khỏi phải băng rú băng độn.

 

"Hội chứng mặt tiền"
 
      Mặt khác, ngày trước ông bà ta “kỵ” nhất là chôn ở chỗ thấp, sợ ngập nước, trôi “nấm”. Nếu lỡ chôn, muốn tôn cao tất phải bỏ sức người gánh nhiều đất từ nơi xa, rất vất vả. Ngày nay thì ngược lại, đã có xe bò, thậm chí xe tải, di chuyển thoải mái, xẻ đất vô tư từ các độn cao chuyển xuống. Điều này cũng giải thích tại sao những ngôi mộ “lớn” xưa thường nằm trên các vị trí cao.
 
      Cụm từ “hội chứng mặt tiền” bắt nguồn từ các thành phố, sau thời kỳ “mở cửa”, khi mà ở đó nhà nhà khai thác mặt tiền để buôn bán làm ăn sinh lợi. Rõ ràng thời này nhà mặt tiền lúc nào cũng tiện lợi, cao giá hơn nhiều so với trong hẽm. Mà những người từng về làng “lấy đất” đa phần lại là người từ thành phố, nên dư luận có người ví von là bị …nhiễm “hội chứng mặt tiền”!
 
      Đặc biệt khi con đường “xuyên rú” bằng đất đỏ khởi công từ đầu năm 2014 hoàn thành, bỗng dưng nhiều ngôi mộ “vô danh” trở thành “nhà mặt tiền” một cách ngẫu nhiên và…may mắn như “của trời cho”! Bên cạnh đó, những khoảng trống còn sót lại ngay bên các cung đường mới này cũng được tận dụng triệt để, dẫn tới nhiều tình huống tranh cãi nhau mà thường là do …ma mới lấn đất ma cũ!
 
      Cũng cần ghi nhận thêm về “hướng” mộ. Do tin vào tâm linh, tin vào hướng mộ tốt xấu từ những lời phán của “thầy địa lý” và cũng vì địa hình mỗi nơi mỗi khác, nên hầu như mỗi mộ đều có hướng riêng. Nhiều mộ “chân biển đầu núi” (tức quay mặt về biển), ngược lại nhiều mộ lại “chân núi đầu biển” (tức quay mặt ra làng), nhiều mộ lại quay theo hướng Nam Bắc. Tóm lại là đủ cả “mười phương tám hướng”! Vì vậy có thể hình dung tình trạng lộn xộn của mồ mả trong “nghĩa trang thiên nhiên” này.
 
      Ngoài những phần đất dành cho người quá vãng ở làng, từ lâu nay người phương xa (kể cả hải ngoại) khi mất cũng được đưa về làng an táng do tâm nguyện muốn trở về yên nghỉ trên quê cha đất tổ. Vì vậy mà đất càng ngày càng hiếm “chỗ đẹp”. Trước đây, người ta ít chôn cất phía bên kia Khe làng (tức phía tả ngạn dòng chảy) một phần do phía thượng nguồn (vùng giáp ranh Vĩnh Xương) đất thấp, còn phía hạ nguồn (vùng mả Ngài họ Trần Đăng) đất cát vàng trên cao hằng năm cứ theo gió bay xuống lấp vùi mồ mả.
 
      Nay thì hai trở ngại ấy đã được giải quyết. Đất thấp thì cứ việc tôn cao lên nhờ các phương tiện chuyên chở mới, còn phía mả Ngài thì đã trồng rừng tràm cả bên này lẫn bên kia Cụp (tức bờ đất chặn nước, chắn gió chạy dài từ Vĩnh Xương xuôi về cuối làng). Vì thế bà con ta có khuynh hướng chọn đất ở khu vực này vì còn khá thoáng rộng. Có người chỉ lấy một hai huyệt đơn lẻ nhưng có người "khoanh" luôn cả một khuôn viên. Từ đó hình thành các cây cầu bê-tông bắt qua khe những năm gần đây, kèm theo những đường dẫn, hầu hết do người phương xa đầu tư xây dựng.
 

 
      
       Nhìn chung, về mặt di chuyển, ngày nay đã có nhiều thuận lợi hơn xưa nhờ con đường đất vàng xuyên rú và các đường nối ra các xóm. Hằng năm dịp chạp mả hay ngày thường người phương xa về thăm viếng, đỡ tốn công “lặn lội” băng rừng băng rú, mỏi chân và mất thì giờ.
 
       Nhưng xét về điều kiện mặt bằng, dù hiện “quỹ đất” nghĩa trang vẫn còn tương đối dồi dào, nhưng về lâu về dài e rằng tình hình thuận lợi này sẽ không còn nữa. Do đất đai nói chung ngày càng khan hiếm, một số khu vực độn rú sẽ có thể bị trưng thu vào mục đích kinh tế. Dẫn chứng là các hồ nuôi tôm từ hướng bờ biển, ngày càng được mở rộng, “nuốt” gần hết độn cát và tiến vào gần sát với khu vực “nghĩa trang”. Và mục đích thực hiện con đường đất vàng xuyên rú vừa qua  - mà hỏi người dân thì ai cũng ấm ớ chẳng biết để làm gì - chắc chắn không phải là để cho dân làng tiện bề đi thăm mộ.
 
      Từ đó sẽ nẩy sinh những vấn đề hết sức nhạy cảm về quản lý và sở hữu đất đai, nói khác là quy hoạch lại vùng độn rú. Và như vậy, nghĩa trang sẽ ngày càng tiếp xúc “gần gũi” với những hoạt động mưu sinh và sinh hoạt của con người, vốn chứa đầy những ô nhiễm: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm cả âm thanh. Nghĩa là, môi trường sinh thái nơi đây sẽ bị đảo lộn, cảnh quan thiên nhiên - vốn là nét đặc thù so với các nghĩa trang thông thường khác - sẽ bị phá vỡ. Vùng độn rú thiêng liêng sẽ không còn là vùng đất yên tĩnh, trong sạch và tôn nghiêm vốn có từ bao đời nay nữa.
 
      Âu đó cũng sẽ là hệ quả tất yếu của tiến trình phát triển thiếu bền vững, phát triển mà thiếu bảo tồn, đặt lợi ích vật chất lên trên yếu tố văn hóa tinh thần, xâm phạm thô bạo cái nôi thiên nhiên của bao thế hệ con dân làng vậy./.


       *Bài và ảnh: Nguyên Thanh
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 13
Tổng truy cập: 574.216