Thông báo

14/122017

Phương ngữ Kế Môn (kỳ 2)

 ĐẶC NGỮ KẾ MÔN
(tiếp theo)
 
     Để biết hết tất cả những từ “đặc ngữ” mà người Kế Môn hay dùng trong quá khứ, thật không phải dễ. Bởi chúng ngày càng mai một, khi lớp trẻ mỗi ngày mỗi lớn lên, hầu như không còn sử dụng, trong lúc lớp người già thì lần lượt ra đi mang theo “gia tài” quý báu này xuống mồ. Đặc biệt với những người xa quê đã lâu, theo thời gian những đặc ngữ này cũng bị quên lãng, hoặc bị chôn sâu trong ký ức, chỉ bất chợt một lúc nào đó nghe tới mới nhớ ra.
 
     Vì vậy mà cứ ngồi một chỗ để “tra cứu”, hòng nhớ lại, ghi ra cho thật đầy đủ thành như một cuốn “từ điển đặc ngữ Kế Môn” để lưu lại cho hậu thế là việc làm hết sức nan giải. Vì “tài liệu” thì không hề có sẵn, cả trong kho tàng văn hóa dân gian truyền thống lẫn hiện hữu trên mạng bây giờ. Chỉ còn cách là chờ đợi, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm,... nhờ nhiều đồng hương, trong những lần “trà dư tửu hậu”, nhớ lại chuyện xưa, hoặc tình cờ “phát hiện” nhờ một câu nói bất chợt của ai đó mà “ngộ” ra. Chỉ có vậy  thôi, không làm gì khác được.
 
     Như vừa rồi tình cờ tôi đi uống cà phê với bà xã bên bờ sông khu Trung Sơn, Bình Chánh. Phía đằng sau có một tốp người Huế đang nói chuyện rôm rả với nhau. Một người nói: “Bộ mi đui răng không chộ để chù u trốt”, người kia: “Răng đui, chộ chơ, tau còn chùm hum xuống nữa tề. Bà xã tôi, người miền Nam, nghe hai từ “chùm hum” bả không hiểu, ngớ ra. “Chùm hum là chi anh?” Tôi bỗng phá ra cười ngặt nghẹo rồi bảo bà xã: “Lấy anh cây viết mau, mau!” “Để chi?”. “Ghi lại liền kẻo quên! Chùm hum, chùm hum!"
 
     Một dịp khác, ngày tôi còn ở tù vượt biên chung với người Kế Môn ở nông trường Bến Giá, Duyên Hải, Trà Vinh. Giai đoạn cuối lên ở trại mộc, được tự do phân nửa. Một sáng Chủ Nhật nọ, tôi cùng L. ra chợ Long Toàn mua một vài thứ lặt vặt. Ghé vào tiệm bán nước mía bên đường, chúng tôi kêu hai ly. Cô bán nước khá “chảu”“múp”. Khi cô nàng bưng nước mía ra, L. nhìn chằm chặp, nói to: O nề, bụ o nậy gắt hí. Cô ta không hiểu: “Gì cơ, chú kêu gì nữa?”. L. vẫn trân tráo, tỉnh bơ: Tui nói là bụ o nậy gắt”. Cô nàng vẫn không hiểu gì nhưng cứ “Dạ...dạ...” Rồi cô quay vào. Hai thằng ôm bụng cười ục ục. Tôi nói với L. “Coi chừng đó mày, nó mà biết được, đi tố thì không khéo phải ở tù thêm”...
 
     Một dịp tình cờ khác nữa, anh em bạn bè đồng hương đi uống cà phê vườn, thấy mấy cô tiếp viên cũng khá xinh. Trong số ấy có một cô tuyệt đẹp, đẹp cả dáng vóc, khuôn mặt, đẹp cả dáng đi. Lão T. trợn mắt: Ui chao! Đẹp dễ sợ! Tau chưa chộ đứa mô đẹp như rứa cả. Đẹp vô hậu!” Nghe mấy cô bé chạy bàn toàn nói tiếng Sài Gòn, cả bọn yên chí cứ vô tư "xổ" đặc ngữ của làng thoải mái. Nào khen o ni chảu, o tê múp, o ni bụ nậy, o tê khu đại chang... Rồi lại đem tướng mệnh phụ nữ ra mà "khảo luận" theo đặc điểm của tứ tướng: “hồng diện..., trường mi..., tiểu yêu..., trường túc...”. Cuối cùng tôi để ý thấy có một cô bé lén che miệng cười, tôi nghi nghi, hỏi: “Nãy giờ cháu có nghe mấy chú nói gì không?” -“Dạ... dạ không!”. Tôi bỗng ngờ vực: -“Thiệt chứ? Vậy cháu người ở đâu, miệt nào?” -“Dạ cháu  người Trung, gần Huế” -“Làng nào?” - “Dạ làng Kế Môn”!!!
 
     Tản mạn một chút, bây giờ trở lại với đề tài “phương ngữ Kế Môn”, kỳ trước chúng tôi đã giới thiệu một số bài thơ (văn vần) kèm theo những đặc ngữ qua nhiều chủ đề khác nhau. Kỳ này chúng tôi sẽ giới thiệu một số bài ký (văn xuôi) cũng với mục đích tương tự. Đây là những hồi ký ngắn ghi lại vài sự kiện ở làng ngày trước, với nội dung và cách diễn tả mang tính hài hước để bạn đọc khỏi nhàm.
 
*Hồi ký 1 :  
CHÁY DÀ  O TUI !

      1955…
            Huơ làng ! Lả lả lả ! …
            Huơ làng ! Lả lả lả !
      Tiếng la thất thanh giọng nừng bà vang lên không ngưng. Đêm mùa hè nực nội, ai cũng thao thức phì phạch với cái quạt mo, mãi tới canh hai mới chợp được một chớt thì bỗng nghe tiếng la. Bọ tui vùng dậy, mắt dắm mắt mở, ba chưng bốn cẳng, dảy khỏi bộ phản, chạy ù ra ngoài cươi!
      Rồi tới phiên: mạ tui, mấy chị tui, eng tui cũng chụi mắt, vùng dậy, dảy xuống chờn, cùng chạy ra khỏi ! Mấy đứa dỏ chạy theo vừa la vừa khót vang râng vì sợ.
   Ngoài xóm, bà con dà côi dà đưới, xớn xác, hớt hãi chạy tới:
     -Cháy dà mô rứa?
     -Cháy dà mô rứa? …
     -Dà  O tui ! Dà O tuiEng tui la  lạc cả giọng…

      Bọ tui tức tốc chạy qua, tay quơ một lúc hai cái gàu múc nát. Dưng cái chiếng quá su, cạn nát, lại túi om nữa, múc không được bao diêu. Rồi ông cũng liều mạng lao tới, cùng bà con chòm xóm, xối lấy xối để vô ngọn lả đang phừng phực…Dưng lả mùa hè hộn quá, nó mau chóng leo lên tới khù đị rồi tích tắc bao trùm cả ngôi dà tranh tội nghiệp của o tui…
     Trễ quái rồi ! Bà con ai nấy rộn ràng cuống quýt mà khôn mần răng dập được ngọn lả. Ai cũng biết chừ có chục cái chiếng đầy nát cũng đầu hàng thôi…không chựa kịp nữa!
      Lả cứ rứa bốc cao lên: đỏ lòm, hừng hực, vượt qua cả đọt bụi tre gai, soi sáng cả bầu trời đêm. Tiếng ống tre, ống hóp kêu đì đùng pháo nổ… Một chặp sau, ngọn lả rụi xuống và phơi ra cả một đốn tro than nghi ngút khói lả.Thiệt là điêu tàn!...

     O tui vừa ôm lấy bọ tui vừa khót bù lu bù loa :
     -Eng ơi cháy hếc cả rồi…Còn chi nữa Eng ơi!
     Bọ tui cũng mủi lòng, dưng khôn biết mần răng an ủi được người em cấy. Dượng tui dại sớm. Mấy đứa con O đi mần ăn ở đàng ngái xa xuôi tận Tu–ranhO tui ở một chắc với mấy trào rọn canh…Năm ni mất mùa. Thiệt là khổ!...

 
 
*Hồi ký 2 :  
TÂY ĐÚT DÀ !

     1953…
     Dớ lại một thời Tây về lùng…Mấy thằng Tây Ma-rốc đa đen mặt rạch tràn vô làng. Chúng đút dà dệ ợt dư đút một tờ giấy! Hết cấy ni tới cấy khác, chỉ với một hộp diêm : quẹt lên, châm vô tranh săn ở mái hiên. Rứa là xong! Căn dà phừng phực cháy, dưng khôn ai đám la lên trước mặt mấy thằng Tây đang xì lô xì la dữ dằn nớ.
     Bọ tui mới bị Tây bắt đi rồi. Mấy eng chị đã lo chạy trốn. Chỉ còn lại  hai mạ con tui. Mạ tui cọng tui côi lưng, khôn nói khôn rằng, xót xa dìn căn dà đang cháy trước mặt, tiếc nuối và căm phẫn!

     Rồi căn dà từ từ rụi xuống, để lượi một đốn tro than ngun ngút khói lả, dìn kỹ sẽ chộ một đốn ló cháy đen, dững cổ khoai nướng cháy…thơm phức la liệt khôn ai ăn cho hếc! May mà mạ tui đã lanh trí, mở cựa truồng cho mấy con ụt ịt chạy thoát ra ngoài, khôn thì phải ăn luôn cả thịt heo nướng… trừ cơm !
     Dà tui cháy rồi! Bọ tui khôn có ở đay. Tui còn dỏ. Mạ con tui biết mần răng?! Thiệt à khổ!...                                 
       
*Hồi ký 3 :  
CẮT RỌN  SU !

       1956…
       Trữa tháng tám, mùa trái còn cả ở ngoài đồng thì bạo  ập tới, mưa mô gió nấy, ròng rả một ngày một đêm. Bạo vừa dứt, xuống  đường Ngang dòm ra đã thấy…trắng đồng. Dân làng, bỏ mặc  dà cựa, nương vườn, cây cối bổ lọi tứ tung, trai cấy, tra trẻ, tức tốc ào xuống cứu ló.

     Rọn cặp bợt rào đã su, nay nát lút  lại càng su hơn. Tội nghiệp, bao diêu chẹn ló hẻo, chưa kịp chín, chới với  trữa dòng nước bạc vô tình. Nát lút ngang ngực nừng ôn, ngang bai nừng . Phải đưa vằng xuống ngang bụng  mà cắt ngầm. Tròng nốt không đủ cho cả làng, phải thay phiên dau  đưa lần vô bợt, dù biết bợt cũng đã lút su tới trốt cúi. Tui đứng côi bợt, nát ngang tới  trục bả, ướt hết. Dưng chộ mọi người cực khổ, dọc dằn, không yên bụng, nên cũng  dảy ào xuống, phụ giúp đưa ló vô bợt. Cũng không sợ chi  vì tui biết bơi, từng bơi qua…bàu Bể và cả sông Ô Lâu. Chộ mần được việc, chú mạ tui cũng bui và tin tưởng thằng con út thư sinh học trò.

       Nhưng vì mần riết  cũng mệt, phần vì ham hố, tui gom quá nhiều , quá nặng. Nó  dận chìm tui xuống nát su không thương tiếc. Tui biết, chỉ cần bỏ bó ló ra là có thể ngoi lên được ngay, dưng không chịu bỏ, vẫn cố! Tui mang máng nghe tiếng mạ tui côi tê, lạc giọng: “Chú mi ơi! Thằng Út mô rồi” Thằng Út rồi?”. Tức thì ai cũng ngưng tay, quay lại, dưng chẳng chộ bóng dáng tui , chỉ chộ nát với nátChú tui quăng cả vằng, bơi ào tới, xớn xác tìm kiếm.

         Khi chộ bó ló lơ lửng trong nát, ông phát hiện ra tui, vội gạt bó ló sang bên và túm cổ lôi tui dậy! Bụng tui lúc đó  hình dư đã…uống khá diều nát. Tui được đưa vô bợt, bỏ nằm trấp côi đốn ló cao khỏi mặt nước, chúi trốt xuống, cho nát tron bụng…chảy ra! Mạ tui tới, vừa vỗ lưng cho tui vừa la, vừa khót:  “Con ơi, con răng dại dữ rứa, con tiếc bó ló mà không kể cái mạng của con. Lỡ con có mần răng, chú mạ biết sốn với ai?!...

 
 
*Hồi ký 4 : 
CẮT RỌN NGOÀI TÊ !

       1957…
        Gà mới gáy canh ba, trời đất còn  túi đen dư mực. Mạ tui đập đậpchưng tui: “Dậy! Dậy! Dậy đi con!  Rửa mặt rửa mày, ăn cơm mà đi!” Tui lồm cồm dậy, bước xuống  khỏi chiếc chờn tre, dắm hướng bếp đi ra, vừa đi vừa ngáp. Tới bên cái đột, lần mò một hồi  mới đụng được cái gáo. Tui múc một gáo nát lạnh  từ trong đột, uống một mén để súc mẹn và còn lại thì xối vô mặt cho tỉnh.Tui dìn ra bên hiên: trai tráng chừng năm bảy người đang tề tựu đông đủ, đang vừa ăn cơm vừa nói chuyện với cha tui bên chiếc đèn bỏng liu hiu: Bựa ni dà tui đi cắt ngoài tê.

      Năm mô cũng rứa, rọn ở làng  cấp không đủ, cha tui phải ra tận miệt Đồng Dương, Diên Khánh, Quảng Trị để thuê thêm rọn mà mần. Bởi vậy phải dậy thiệt sớm, cơm nát xong  là xuống liền bến Dừa, ở đó có nốt đã thuê sặn và xuất phát lên đường. Mùa mùa thì ra thẳng cựa khâu, băng qua Khút Bàu Ngược, còn mùa trái gió máy thì phải cặp theo Hói Ngang tới Bến Đào rồi cũng ra Làng Rào, sông Ô-Lâu  trực chỉ Quảng Trị. Tui đi theo với diệm vụ là “chự nốt”.

    Ra tới rọn, trời cũng vừa tờ mờ sáng. Nốt neo cột  bên bợt hói và mọi người kéo vô rọn cách chừng vài trăm thước, có khi hơn cây số, cắt từ sáng tới xế  mới xong. Rọn xứ này, cha tui nói là  rất màu mỡ, nhưng có cái là đĩa diều vô kể. Mà tui thì…chúa sợ đĩa từ dỏ, nên không đám rời khỏi nốt, cứ hết thả câu xuống i cho đã rồi lại mang cuốn “sách tập đọc” lớp ba đã dàu nát trong bọc ny-lông ra đọc cho hết giờ.

       Ngặt nỗi tới trưa thì tui có diệm vụ phải sương cơm nước vô cho thợ. Ngày nớ,  xui xẽo gặp lúc nát nậy, lút cả bợt cả giường, đành phải lần mò đi khá chậm và lội bì bõm. Càng đi, tự nhiên tui cảm thấy chưng mình như có gì đó nằng nặng, cứ nghĩ là vì triêng cơm côi bai mình. Nào ngờ khi sắp tới nơi, bước lên một mô đất, tui dừng lại nghỉ mệt và tình cờ dìn xuống cặp chưng thì…ui chao!

      Tui hoảng hốt quăng cả triêng cơm xuống đất, mẹn vừa la, chưng vừa dảy tưng tưng, xen cả mặt mà không biết phải mần răng: Có chừng một chục con đĩa đen thui đang bám vô chân tui… chộ mà gớm! Cha tui thấy tình huống bất ngờ tức tốc chạy lại. Nhưng ông chẳng thèm để ý đến mấy con đĩa gớm ghiếc ở quanh chân thằng con, mà chỉ lo xúc lượm lại triêng cơm tui  vừa mới mần đổ mần tháo. Ông giận dữ dìn tui: “Trời thần! Hết con để sợ răng mà sợ cái con đĩa  mềm xèo!”

     *Bài: Thảo Nguyên
     *Ảnh minh họa sưu tầm
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin liên quan

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 9
Tổng truy cập: 505.999