Thông báo

13/122017

Phương ngữ Kế Môn

THỔ NGỮ THỪA THIÊN HUẾ
&
ĐẶC NGỮ  KẾ - MÔN

 
     Làm một chuyến hành trình suốt chiều dài của đất nước, từ Cao Bằng- Lạng Sơn đến Mũi Cà Mâu, hẵn ai trong chúng ta cũng đều nhận ra rằng: cùng là người Việt, với nguồn gốc là con Rồng cháu Tiên với nhau, cùng nói “tiếng nước tôi” là tiếng Việt, nhưng có khi, nghe người “đồng bào” mình nói, kẻ đối thoại chẳng hiểu được gì, nếu không có người “thông ngôn”!

     Ngoài việc sử dụng “ngôn từ” khác nhau giữa các vùng miền, “âm điệu” (tức giọng nói) cũng mang tính đặc trưng, không nơi nào giống nơi nào. Từ vùng này sang vùng khác  đến tỉnh này sang tỉnh nọ, khác nhau đã đành, thậm chí làng này sang làng kia, chỉ cách nhau một con sông nhỏ hay một lằn ranh thiên nhiên mong manh, “ngôn ngữ dân gian” vẫn có chút gì đó khác biệt.

     Ai cũng biết, người dân Việt khởi nguồn từ đất Bắc, qua từng giai đoạn phát triển, đã tiến dần về phương Nam, qua vùng đất Chăm cổ kính rồi vùng đất mới hoang vu Thủy Chân Lạp. Ở mỗi nơi, không gian, địa hình mang một sắc thái khác nhau. Miền Bắc núi cao, sông sâu, hiểm trở, cổ kính. Miền Trung sông cạn, núi dài, đất hẹp, cằn cỗi. Miền Nam đất rộng mênh mông, sông ngòi chằng chịt, phù sa mầu mỡ. Tất cả những đặc thù của địa hình không gian ấy đã ảnh hưởng trực tiếp lên “con người” sống trong môi trường đó. Nó tạo nên “bản chất” riêng của  người bản địa, đồng thời hình thành nên “văn hóa” ở mỗi vùng miền. Trong đó ngôn ngữ là một thành tố quan trọng.

     Nếu lấy Hà Nội - Huế - Sài Gòn làm ba vùng chuẩn với ba “giọng nói” đặc trưng và ghi âm, thì hình “sin” hiển thị lên sẽ có cao độ giảm dần từ Bắc vào Nam, tương ứng với địa hình núi non giảm dần độ cao theo chiều ấy. Đồng thời sẽ nhận ra rằng tại các “vùng đệm”, ngôn ngữ sẽ bị pha trộn, “trung dung”, do ảnh hưởng từ phía “hai đầu”. Chẳng hạn, giọng nói bắc Trung bộ (Thanh - Nghệ -Tĩnh) “lai” giữa giọng Hà Nội và Huế (Thanh gần Bắc hơn, Tĩnh gần Trung hơn). Hay nam Trung bộ (Phan Rang – Phú Yên – Phan Thiết) “lai” giữa Huế và Sài Gòn (Phan Thiết gần Nam hơn, Phan Rang gần Trung hơn) …

     Vùng Thừa Thiên Huế từ xưa, vốn là vùng đất Chăm, thời chúa Nguyễn là vùng đất chiến lược và sau đó, đã trở thành kinh đô một thời của Triều Nguyễn. Vì vậy, văn hóa (trong đó có ngôn ngữ), nơi đây có những nét đặc thù. Ở kinh kỳ Huế, mà đa phần là quan lại, viên chức, tiểu thương, “ngôn ngữ dân gian” mang sắc thái kiểu cách, “nhẹ nhàng”. Trong khi vùng nông thôn bao quanh, mà hầu hết là nông dân chân lấm tay bùn, thì ngôn từ và âm điệu sử dụng thường là mộc mạc và “nặng nề” hơn.

     Làng Kế Môn cũng là một làng nông nghiệp bao quanh kinh kỳ. Vì thế ngoài thừa hưởng nền tảng ngôn ngữ chung của vùng Thừa Thiên Huế, gọi là “thổ ngữ” hay phương ngữ Huế, vẫn có những “đặc ngữ” (xin tạm gọi như vậy) mang đậm bản sắc riêng của làng mình mà các làng khác, thậm chí là các làng kế cận, không thấy có nét tương đồng.

     Tất nhiên, những “ngôn ngữ dân gian”, những “đặc ngữ” phong phú và đa dạng này đã và sẽ không bao giờ được ghi trong “từ điển tiếng Việt”. Rồi một ngày nào đó, khi “giao thông” cả trên thực địa lẫn trên mạng phát triển, văn hóa nông thôn dần dần tiếp cận với “văn minh” thành thị, cư dân có điều kiện “pha trộn” với nhau dưới nhiều hình thức, những “ngôn ngữ dân gian” đặc thù ấy sẽ dần dần mai một và biến mất không còn dấu vết.

     Bởi vậy, những ai quan tâm đến lịch sử, đến văn hóa của làng Kế, quan tâm đến “tiếng Kế Môn”, hẵn sẽ tiếc nuối khi nghĩ rằng, một ngày nào đó, sẽ không còn nghe được những ngôn từ ngồ ngộ, giọng nói quen quen để mà nhận ra người đồng hương ở một nơi xa xôi nào đó…

    Từ viễn cảnh tiếc nuối ấy, chúng tôi từng nuôi ý tưởng viết một cuốn “từ điển” ghi lại tất cả ngôn từ độc đáo của người làng Kế từ xưa, giúp thế hệ mai sau được biết về một nét văn hóa của tổ tiên cha ông. Nhưng như vậy e rằng khô khan quá, và khi đã không còn sử dụng thì đâu còn  nhu cầu để “tra cứu”? Vì vậy xin được tản mạn ghi lại những “đặc ngữ” ấy qua việc phân loại theo từng chủ đề, bằng hình thức là những bài thơ (hoặc vè, phần lớn là lục bát) hay những bài “văn ký” ngắn có tính chất bi hài cho dễ đọc và dễ nhớ.
    
      Qua đây, cũng xin thỉnh ý những đóng góp và sửa sai của quý độc giả đồng hương từ mọi nơi và mọi lứa tuổi, để cuối cùng có thể hình thành một cuốn sách nhỏ làm kỷ vật cho thế hệ con cháu mai sau.                                                                 
 
Chủ đề 1:  MÙA GẶT VÀ NÔNG CỤ

      
Ai về làng Kế mà coi
đồng chín rộ người người hân hoan
Khua vằng ôm chẹn cắt phăng
Liềm quơ tót bức chắc ăn mười phần
Xóc đòn hai bó lên gân
Sương về nặng hột đánh rầm côi cươi
Trâu đạp, trâu ai cười ?
Đến khuya trâu nghỉ ta thời xóc rơm
Mỏ xảy nhọn hoắc cong cong
Rơm dồn một đốn, hạt ròng vàng tươi
Trang, cào phơi ló ngoài cươi
Thúng  mủng nấy, khén rồi xúc vô    
Xúc vô dên trước gió lùa
Bay vèo hột lép, chắc đùa vô chân
Thúng lường gạt phẳng mười phân
Đổ cho đầy vựa, ăn lần còn lưa
Để đèn một cối mì-xưa
Xay liền gạo mới : hồng mơ hẻo rằng !
Chả gạo, chả dưới ánh trăng
Chày đôi, cối đá  xịch xằng đều chi !
Rồi ra gạo trắng tức thì
Tràng, dần, nốn, trẹt, bộ đi, hắc về…
Hột cấu : hột ngọc dân quê
Buồn hôi  ai đổ mãi mê tháng ngày
Cuốc bàn, cuốc chĩa, lượi cày
Trâu bừa, người cuốc rọn này trưa kia
Xa xuôi  ai cũng muốn về
Ngó đồng thăm ló bốn bề thân quen…


Chủ đề 2 : THỦY SẢN VÀ NGƯ CỤ

       
đầy bồ, cấu đầy lu
dau đi bắt cá cua ao bàu
Cái chơm : vũ khí đi đầu
Nước cạn chơm nổi, nước sâu chơm mò
Đúa chậm dành để mấy o
Úp vô bợt cỏ, chân co chậm mài
Cái lừ nước chảy đường Quai
Cá tôm mắc bẫy chui hoài chẳng ra
Cặm câu lưỡi móc mồi ta
Trùn lươn ngọ nguậy, chết cha cá tràu !
chình,hẻng, bộn sâu
Thò tay tới néc một xâu rành rành
Con lươn, cá giéc ưa sình
Mình trơn khó bắt, gồng mình ngoéo tay
Siu siu, bọ niện, ăn mày
Con đam. con rạm bắt ngay không chừa
mại,cấn đu đưa
rang, nghẹn chưa vừa mồi câu
Ốt lả, ốt hút, hến hàu
Bợt ngang, hói dọc thuộc làu đường đi
mương, cá đối, cá thia
bống,lúi lụt về… đều chi!
Mưa về tháng chín vô khe
Hứng cá diếc trứng đem về mà kho
Mùa hè khe nước gần khô
Lạc đường cá rói từ lượn vòng…
Bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông
Cá tôm, tôm cá ấm lòng dân quê
Xa xuôi ai cũng ức về
Lủm ba con hến lặt, ăn nểbống thề kho tiêu !
                                             
                   
Chủ đề 3 :  DUYÊN NỢ - GÁI TRAI
 

 
O tê  mười sáu trăng tròn
Răng o chưa chịu sặn lòng lấy dôn ?
Làng mền mô thiếu nừng ôn
Hay là o vẫn chờ trôn một người
Một người bên nớ, xóm Xuôi
Đi về sớm túi hay cười mần duyên
Ủ ngai, en nớ thiệt hiền
Dị òm, ốt dột răng nên vợ chồng ?
Để cho o  mãi  ở khôn
Mai mốt ế chồng nỏ biết kêu ai !
Chiều về ngồi trữa vồn khoai
Ngó sang đầu ngõ bóng ai thập thò
Thập thò chẳng đám bước vô
Để cho con chó nó vồ …kêu oan
Chàng ơi chàng hỡi ui chàng
Thương thì cứ noái sao đang ngại ngùng ?
Thương thì đến với dau cùng
Răng còn đứng đó cho lòng héo khô ?
     . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Thương ai  tui cũng muốn vô
Chưng đi không đặng, ai… tui giùm !     

 
        
Chủ đề 4 : CHUYỆN TRĂM NĂM


 
Trăm năm duyên nợ so ra
Chồng cao vợ thấp mới là xứng đôi
Vợ mập chồng ốm : duyên Trời
Vợ gầy chồng béo  một đời cấy dôn !
Trăm năm cây ló ngoài đồng
Chồng cày vợ cấy mới trôn đặng giàu
Cơm độn : tôm vỏ + rọt bầu
“Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon” 
Trăm năm duyên  vợ chồng son
Chồng xa vợ dớ mỏi mòn trôn dau
Thời gian mới đó qua mau
Đẻ năm bảy đứa bụng bầu còn mang !
Trăm năm duyên kiếp phụ phàng
Anh theo của lạ  đa mang chẳng chừa
Bao phen tui đợi tui chờ
Dư  o thiếu phụ bên bờ… vọng phu !
Trăm năm trăng tỏ trăng lu
Đố ai giữ được lời ru thủa nào
Đố ai quăng được giọt sầu
Cho dòng nước chảy qua cầu cuốn đi…
Trăm năm duyên nợ mà chi
Chồng tra vợ trẻ còn ghi nợ tình
Nợ tình ai trả cho mình ?
Lui thì cũng tiếc, tới đành…hụt hơi !
Trăm năm ai hiểu duyên Trời
Ông Tơ  bà Nguyệt  xe đôi chỉ hồng
Chỉ hồng ai đón ai mong
Két cay két đắng (rồi cũng) vợ chồng cấy dôn
                                
       
Chủ đề 5: HÌNH HÀI CHA MẸ SINH RA


                    
Buồn thay  cái  mẹn  vô duyên
Nói ra đặng rước cục phiền vô thân !?
Ngá mẹn  tại củ nưa sần
Chắm cùng mói ớt nóng rần nung
Ngá chi  ngá lạ  ngá lùng
Ngá từ cổ họn tới cùng… lộ khu
Tội nghiệp con bẹp thằng cu
Vừa dai vừa khót hu hu…oan tình
Thương mạ sớm túi dộ dành
Cũng dờ  cái bụmền lớn khun   
Thương bọ cực khổ sớm hôm
Bai chai, đa nám hột cơm nuôi mền
Thương cha kính mạ phước lành
Để lên côi trốt  hiếu tình đạo con
Dù cho trốt cúi có mòn
Con xin quỳ mãi đưới vòm trời cao
Côi trời có mấy vì sao
Thương chú dớ  mạbao diêu tình
Chim cu nó gáy trên cành
Mong con mau nậy, sớm thành lứa đôi
Cho con có chốn có nơi
Đá mềm chưng cứng, cho đời ấm no
Dù cho gió máy còn lo
Xin che lụn đún đừng cho gió vào
Ngoài tê : on bướm xôn xao
Con nguyền giữ trọn duyên trao một lời
Đừng cho trục bả…tơi bời
Béo đi béo lại…kẻo đời cười chê !...

 
Thảo Nguyên giới thiệu
(Ảnh minh họa sưu tầm)
 
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin liên quan

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 17
Tổng truy cập: 605.199