Thông báo

06/062019

Tết Đoan Ngọ và lá mùng 5

    
HƯƠNG VỊ NGÀY TẾT ĐOAN NGỌ
Ở LÀNG QUÊ KẾ MÔN
 
       T heo tập tục người Việt, thông thường khi  hai bên cá nhân hay gia đình có quan hệ ân nghĩa với nhau, người ta thường chọn những ngày đặc biệt trong năm để “qua lại lễ tết”. Đặc biệt, trong hôn nhân, khi có vợ mới “đi hỏi” và đang chờ cưới, thì gia đình chú rể, nếu không muốn hụt dâu, mất vợ, chắc sẽ không thể quên thủ tục này. Người ta cũng thường nhắc đến cụm từ “mùng năm, ngày Tết” để chỉ những ngày đặc biệt đó. Ngày Tết tức là Tết Nguyên Đán, còn mùng năm đây chính là ngày 5 tháng 5 âm lịch, tức Tết Đoan Ngọ. Xem như vậy thì vị trí của Tết Đoan Ngọ,  quan trọng chỉ đứng sau Tết Nguyên Đán cổ truyền. Vậy Tết Đoan Ngọ là gì? Xuất xứ từ đâu?  Nội dung của ngày Tết ấy ra sao? Đối với làng Kế Môn ta, tập tục văn hóa dân gian này hiện nay còn tồn tại không và tồn tại ở mức độ nào?
       Khi bạn lên Google và gỏ vào từ “Đoan Ngọ” sẽ nhận được một loạt những bài báo ngắn nói về nhiều khía cạnh của ngày Tết này. Đọc qua, bạn sẽ có thể tự giải đáp được phần nào những thắc mắc vừa kể. Tuy vậy, ở đây, tôi cũng xin được nhắc lại bằng cách tổng hợp các nguồn tin đó qua những nét chín
h để các bạn có thể có cái nhìn bao quát và hệ thống hơn.


 
      Về định nghĩa hai từ Đoan Ngọ
     
     Theo từ Hán, Đoan có nhiều nghĩa, nhưng ở đây đoan
() có nghĩa là “đầu, mở đầu” (đối lại với mạt là cuối, kết thúc), Ngọ () là buổi trưa. Giờ Ngọ tính từ 11 giờ đến 13 giờ.  Ngọ cũng là tháng Ngọ (tức tháng 5 âm lịch), là tháng mở đầu tiết “hạ chí” thường là nóng nhất. Vì vậy, giờ ngọ khi trùng với tháng ngọ là thời điểm mà “dương khí” cực thịnh nhất trong năm. Cho nên ở Trung Quốc, Tết Đoan Ngọ còn có tên là tết Đoan Dương ( ) hay Tết Trùng Ngũ ( 重五 ).
 
      Nguồn gốc của Tết Đoan Ngọ
     
       Như vậy, ai cũng biết là Tết Đoan Ngọ có xuất xứ từ Trung Quốc, một đất nước đã từng đô hộ Việt Nam ta suốt “một ngàn năm Bắc thuộc”. Qua đó, những ảnh hưởng sâu đậm về văn hóa dân gian của người Hoa  lên  người Việt  là  điều  không  thể  tránh khỏi. Tuy nhiên, lúc khởi thủy, ở Trung Quốc, tết này chỉ có ý nghĩa như là một lễ cúng đánh dấu một thời tiết mới, cực thịnh về khí dương, trong đó, bên cạnh những tác động tích cực mang đến cho vạn vật từ bầu trời trong sáng, quang đãng, còn ẩn chứa những hệ quả tiêu cực từ thời điểm giao mùa trong năm mà dân chúng cần phải quan tâm để đối phó. Vì vậy mới có lễ cúng tế, cầu an trong dịp này.  
   
      Về sau, để có thêm ý nghĩa, người Trung Quốc đã chọn Tết Đoan Ngọ là mùng 5 tháng 5 âm lịch – vốn trùng hợp ngẫu nhiên với ngày tự vẫn của Khuất Nguyên - làm kỷ niệm ngày mất của  nhân vật này. Bên cạnh đó, các thầy thuốc cũng có tập tục chọn ngày này để tưởng nhớ hai chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu, đã một thời vào rừng hái thuốc ở núi Thiên Thai. Khuất Nguyên chính là một nhân vật tầm cỡ trong lịch sử cổ đại Trung Hoa, không  chỉ vì bài thơ có tựa đề “Ly tao” nổi tiếng của ông, mà vì ông là tiêu biểu cho một mẫu quan lại vừa có tài vừa liêm khiết. Thói thường, một mẫu quan như vậy hay bị bọn gian thần bất tài, vô đức gièm pha, cô lập, cộng với một ông vua thuộc dạng “hôn quân”, chỉ biết nghe lời xu nịnh, thì việc ông bị truất bỏ chức vị hay bị đi đày, dẫn đến kết cục phải trầm mình xuống sông Mịch La tự vẫn là bi kịch không hiếm gặp trong lịch sử.  
  
       Với người Trung Quốc ngày nay (kể cả lãnh thổ Đài Loan), Tết Đoan Ngọ đã trở thành  một lễ hội quan trọng, nhằm tôn vinh Khuất Nguyên như là một tấm gương sáng cho mọi người. Một mẫu công dân như vậy cần phải được đông đảo quần chúng bảo vệ. Vì vậy, không ngạc nhiên khi người dân nước này đã bày tỏ thái độ phản đối trước sự kiện người Hàn Quốc có ý đề nghị UNESCO công nhận tết Đoan Ngọ là “di sản văn hóa phi vật thể” của Hàn Quốc (Tuổi Trẻ 22/6/2004). Chỉ hơi ngạc nhiên là người Hàn lại cũng có tết Đoan Ngọ du nhập từ quốc gia láng giềng Trung Hoa như người Việt, nhưng có vẻ là tính cách người Hàn “mạnh mẽ và sâu sắc” hơn ta chăng khi mà họ định nâng tầm cho hoạt động văn hóa  ấy thành một “di sản” của chính riêng mình ?!


 
      Tết Đoan Ngọ tại Việt Nam: ngày giết sâu bọ
    
       Dẫu sao, khi đến với Việt Nam, tết Đoan Ngọ cũng đã được biến thể theo bản sắc văn hóa riêng của dân tộc Việt. Điều đó cho thấy, mặc dù phải trải qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, nhưng người Việt vẫn không bị đồng hóa bởi văn hóa dân gian của người Hoa. Trái lại, người Việt  đã   không  hề  tiếp nhận những tập tục của người Hoa một cách máy móc, mà luôn chắt lọc, vận dụng một cách khôn ngoan những cái hay của người khác phù hợp với hoàn cảnh và bản sắc riêng của dân tộc mình.

         Sở dĩ tết Đoan Ngọ đã biến thành “Ngày Giết Sâu Bọ” từ sáng kiến của người Việt, là do người Việt Nam từ xa xưa cũng đã thông hiểu những tác động tiêu cực từ thiên nhiên qua thời tiết. Thời điểm giao mùa giữa Xuân Hạ, với tiết trời oi bức và ẩm mốc hẵn sẽ là môi trường thuận lợi cho côn trùng, sâu bọ và vi khuẩn sinh sôi nảy nở, phá hoại mùa màng và chính sức khỏe của con người. Do vậy, đây chính là thời điểm thích hợp để phát động một “chiến dịch” làm sạch môi trường thiên nhiên, đồng thời cũng “làm sạch” chính bản thân con người.

        Những hoạt động trong ngày mùng năm Đoan Ngọ của người Việt như tắm nước biển, tắm nước lá mùi, ăn những món ăn có tính “giải độc”, uống những thức uống mang tính “giải nhiệt”, hái lá mùng năm dùng làm nước uống… tất cả đều không nằm ngoài ý nghĩa trên. Ngoài ra, đối với người Việt, đây cũng là dịp để nhớ tới và bày tỏ “ân nghĩa”  trong các  quan hệ tình cảm  với nhau, đặc biệt trong  ngành thầy thuốc và ngành dược. Điều đó cũng nói lên tính nhân văn trong tập tục này của người Việt, một nét độc đáo mà bản thân nơi khai sinh ra ngày Tết này không thấy có.

 
      Tết Đoan Ngọ ở làng Kế Môn và lá mùng năm
  
     Trong bối cảnh chung đó, làng Kế Môn, một làng quê ở miền đồng bằng Trung bộ, vốn có đủ mọi hình thái địa hình của thiên nhiên (ao, hồ, sông, suối, rừng, đồi...) với một thảm thực vật vô cùng phong phú với hơn trăm loài cây cỏ, và với thời tiết mùa Hè nóng bức, mà mặt trời buổi trưa tháng năm như một “lò lửa” sát ngay ở trên đầu, ngay từ buổi hình thành làng, chắc hẵn đã có tập tục lễ tết này rồi.   

 


 
Món vịt luộc chấm nước mắm gừng và chè kê bánh tráng
(ảnh sưu tầm)

      Thực tế cho thấy, trong những thập niên nửa cuối thế kỷ 20 và hiện nay,  ngày Tết Đoan Ngọ ở Kế Môn vẫn được tổ chức đều đặn hằng năm. Món vịt luộc chấm nước mắm gừng  (ăn kèm cháo vịt)  và  món  chè kê (ăn kèm xôi đậu xanh) có lẽ là hai món chính trong hương vị ngày Tết này. Chỉ thời gian gần đây, do du nhập từ phía Nam, mới có thêm  món bánh tro, bánh ú (loại nhỏ).

      Nhưng nội dung quan trọng mà người viết muốn đề cập ở đây, đối với ngày tết Đoan Ngọ ở làng quê Kế Môn xưa, đó không chỉ là “khẩu vị”, là vịt luộc, bánh tráng chè kê đơn thuần, mà chính là ở “hương vị”: đó  là hương vị đặc trưng của “lá mùng năm”. Thật vậy, vô rú hái lá mồng năm lúc mặt trời mới lên (không phải đợi đến giữa trưa) trong một không gian tĩnh mịch, dưới cát trắng, trên trời trong, vừa là một nhu cầu thực tế (để có nguồn nước uống quanh năm cho gia đình), mà lại vừa là một cái thú tham quan đất trời cây cỏ không đâu có được. Chỉ thoạt bước đến đầu Truông, bạn đã “nghe thấy” một mùi thơm vừa dịu dàng vừa thanh thoát, ngào ngạt tỏa ra không biết từ đâu! Có phải như đang ở trong Khiêm lăng của vua Tự Đức với vô vàn hương sứ trắng thanh cao? Hay đang mê mẩn trong một cảnh tiên huyền ảo cùng với Lưu Nguyễn đời Hán?
 
        Không đâu, đây là thực chứ không phải mộng. Không phải hương hoa sứ trâm anh hay hoa đào diễm lệ. Đây chính là Hương Chìu mộc mạc giản đơn nhưng mà thanh cao của quê tôi, mà có lẽ, nếu bạn đã “gặp gỡ” một lần, hẵn sẽ khó mà quên. Để mà thấy rằng, ông bà tổ tiên người làng Kế đã có được diễm phúc biết bao khi nằm xuống trên vùng đồi cát trắng này, với hằng hà sa số những “thảm chìu” trắng tinh phủ kín cả những bụi trâm-bù từ tầng thấp đến tầng cao, và mùi hương thì chỉ có nhắm mắt và cảm nhận mà không thể dùng từ nào cho chính xác  hay so sánh với mùi hương nào khác được.  
                            
      Tất nhiên, lá mùng năm ở Kế Môn không chỉ có  dây chìu, mà còn vô số những hương lá đa dạng và độc đáo khác, mà tinh dầu được kết tụ với dung lượng tối đa trên lá vào ngày này. Có thể kể: lá tràm, nổ, vằng, lá mả ren, cam, chanh, bưởi, lá sả, ổi, tre, sim, mắm nêm, bìm bịp... cho đến  các  món độc như “tía tô, cánh giới, ngải nghệ, trầu hoang”… tất cả đều tươi tốt, tỏa mùi thơm phức và sẵn sàng cho ngày hái mùng năm.


 


 
Hoa chìu và hoa mả ren
(ảnh TNG)

      Tỉ lệ từng món được hái nhiều hay ít còn tùy khẩu vị của từng người, nhưng hổn hợp đa phần đều có vị rất chát và đắng, nếu không quen, khó mà uống thường xuyên để thay cho trà và chè lá - vốn đắt đỏ so với túi tiền của bà con nông dân thời ấy - và chỉ dành cho các dịp cúng giỗ và đãi thợ. Lá mùng năm được hái về, chặt nhỏ, phơi đầy cươi (sân) cho đến lúc khô thi vô bao cất ở gian bếp và dùng quanh năm như các bạn đã biết.  
    
      Tiếc rằng, các bạn trẻ hiện nay, đa số không được uống lá mùng năm để thấy được hương vị độc đáo của nó. Có thể là hương vị khó ưa, khó nuốt, nhưng đó lại là thuốc, những dược chất có được mà không tốn tiền mua. Tiếc là người viết không phải là chuyên gia trong lĩnh vực dược học dân tộc, nên không thể phân tích cho các bạn thấy mỗi thứ lá có tác dụng gì cho sức khỏe của con người. Chẳng hạn như nước lá chè xanh có tác dụng giải nhiệt, nước lá gừng tiêu đàm... Chỉ thấy tự bản thân, sau mười mấy năm ròng rả uống nước lá mùng năm thời thơ ấu ở quê nhà, nay tuổi đã ngoài “thất thập cổ lai hy” mà hai hàm răng vẫn còn nguyên vẹn (răng trắng nguyên chứ không nhuộm đen như mấy o mấy thím ở làng thời ấy!) Liệu điều đó có liên quan gì đến dược liệu của lá mùng năm?!
 
       THẢO DÂN
       Tết Đoan Ngọ Nhâm Thìn 2012
       (Trích tạp chí Về Nguồn - Xuân Qúy Tỵ 2013)
 
 
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin liên quan

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 20
Tổng truy cập: 705.663