Thông báo

26/012018

Tham luận về nguồn cội (bài 1)

THỜI ĐIỂM HÌNH THÀNH VÀ Ý NGHĨA TÊN LÀNG KẾ MÔN
Ý KIẾN CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN THANH TRUNG
 
     *Vài nét về tác giả:
 
     Để hiểu thêm về tác giả, trước tiên xin bạn đọc đồng hương đọc qua vài dòng tâm sự, mà cũng là “tự giới thiệu” của tác giả, như sau: Tác giả viết:
                                   
     “Mặc dầu thời gian về sống tại quê nhà Kế Môn chỉ 6 năm (1946-1951), song suốt cả thời gian dài sau đó, hơn 23 năm theo học và công tác trên đất Bắc, không liên lạc được với gia đình, xa quê hương, nhưng lòng tôi vẫn luôn luôn nhớ đến những hình ảnh kỷ niệm về quê cha đất tổ, nơi mẹ tôi, chị dâu và các em tôi đã vĩnh viễn nằm xuống sau suốt một ngày (18/2/1951) mưa bom của giặc Pháp. Đến tháng 8 năm 1975, chúng tôi mới có dịp trở về thăm lại quê hương Kế Môn. Về lại quê nhà, gợi cho chúng tôi cảm giác so sánh là không đâu đẹp như quê ta.
 
     Qua quá trình 20 năm công tác về nông nghiệp, chúng tôi đã từng tham gia trực tiếp chỉ đạo sản xuất có kết quả tốt ở một số địa phương thuộc một số tỉnh, có cơ hội đi khảo sát và tham quan rất nhiều vùng thâm canh tăng năng suất lúa cho cả miền Bắc lẫn miền Nam Việt Nam, nhưng chưa thấy có địa phương nào trong phạm vi một thôn, kể cả các địa phương cùng giải đất với làng Kế Môn, có lối xây dựng khu dân cư tập trung, phân bố xóm theo lối xương cá, có hệ thống giao thông vận chuyển đường bộ, đường thủy, kiến thiết đồng ruộng, chia “trưa” và “ruộng” ra từng dòng, đặt tên các dòng trưa, ruộng theo vần thơ chữ Nho, đắp bờ vùng , bờ thửa, mương tưới, mương tiêu hợp lý thẳng tắp, quy củ, khoa học và mỹ thuật như các vị tiền bối của làng Kế Môn đã làm, kiến tạo cho quê hương Kế Môn trở thành một làng vừa đẹp vừa khoa học.
 
     Vì vậy khi ở tuổi “cổ lai hy”, với lòng thiết tha hướng về quê hương, chúng tôi đã cố công sưu tầm những tư liệu, những sách báo đã viết liên quan tới Kế Môn, ghi chép lại những hiểu biết và nhận xét về quê hương, đồng thời trao đổi và thu thập thêm những ý kiến của các vị lão thành trong làng, chúng tôi đã hệ thống lại những tư liệu đó, viết thành tài liệu nhỏ này với tên gọi “Lịch sử làng Kế Môn – Quê hương ta đẹp vô ngàn”.
 
     Do những tư liệu được sưu tầm, góp nhặt từ nhiều nguồn khác nhau, nên không sao tránh khỏi những thiếu sót. Mong quý bác, quý bạn đọc chỉ bảo, góp ý, bổ sung và lượng thứ cho, chung sức góp phần làm cho tài liệu này phong phú hơn, hoàn hảo hơn. Nhân đây chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn những tác giả có tác phẩm mà chúng thôi đã sử dụng, trích dẫn trong tài liệu này. Riêng chú Trần Duy Cường (Đà Lạt) đã gởi cung cấp một số tài liệu quý vế làng. Thành thật cảm ơn. Nguyễn Thanh Trung” (hết lời dẫn)
 
     Xem như vậy, xét về thân thế, tác giả Nguyễn Thanh Trung chỉ là một nhà khoa học - một kỹ sư về nông nghiệp, không có chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu lịch sử hay văn hóa, đặc biệt về Hán học. Tác giả chỉ có tái TÂM với quê hương xứ sở. Ông viết dựa trên tham khảo một số tài liệu, sách báo có sẵn từ nhiều nguồn về làng Kế Môn, đồng thời tham vấn thêm những ý kiến của các vị lão thành trong làng, đặc biệt về những nội dung có tính truyền khẩu. Và với khả năng khiêm tốn và cầu thị của mình, tác giả xem đây chỉ là một tập “tài liệu nhỏ” - như gợi mở một đề tài để bà con đồng hương tham gia đóng góp ý kiến, để “chung sức góp phần làm cho tài liệu này phong phú hơn, hoàn hảo hơn”.
 
     Tuy vậy, xét về công lao với quê hương xứ sở, tập sách nhỏ này, dẫu hay hoặc dở, dẫu đầy đủ hay thiếu sót, thì cũng là một tài liệu thành văn đầu tiên để tham khảo (vì có lẽ trước đây chưa có ai làm được chuyện này). Bởi nếu nó hoàn hảo, thì bây giờ giới trẻ hậu sinh đâu còn có cơ hội ngồi đây để mà hào hứng tranh luận. Vì vậy, thiết nghĩ những ai đóng góp ý kiến về những nội dung mà tác giả đã viết trong tài liệu này cũng nên nhẹ nhàng, tế nhị, trên tinh thần cầu thị và tôn trọng lẫn nhau. Đó mới là cách xử sự có lý, có tình, có văn hóa phù hợp với diễn đàn tham luận.

 
 
     *Vài nét về tác phẩm:
 
     Tập tài liệu “Lịch sử làng Kế Môn – Quê hương ta đẹp vô ngàn” (in năm 2008, đợt phát hành đầu tiên ở thời điểm khánh thành đình làng có tên “Làng Kế Môn - Một làng quê ở Việt Nam đẹp và giàu”) gồm 72 trang chia làm 7 phần:
     1.Mở đầu (sơ lược về hình thành và ý nghĩa tên làng)
     2.Về địa lý tự nhiên
     3.Hệ thống giao thông vận chuyển
     4.Tổ chức khu dân cư
     5.Xây dựng đồng ruộng
     6.Về nhân văn khoa bảng
     7.Về nghề kim hoàn
 
     *Các tài liệu tác giả đã tham khảo:
 
     1.Cố đô Huế. Tg Kiêm Thêm, nhà xb Thuận Hóa, 1986
     2.Tản mạn lịch sử - Trên bước đường Nam Tiến. Tg Lê Mạnh Hùng.
     3.Chuyện lạ ở Ngũ Điền (phóng sự). Tg Minh Tự, Tuổi trẻ 17.3.2002.
     4.Một làng ở Thừa Thiên nổi tiếng nghề kim hoàn 300 năm nay. Báo Người Việt tự do số 797, thứ Bảy, 9/12/2000.
     5.Vài nét về làng Kế Môn và thiên tài Nguyễn Lộ Trạch. Tg Nguyễn Thanh Trang, báo Việt Nam mới số 510 ngày 21/6/2003.
     6.Bác sĩ nông học Lương Định Của. Tg Vũ Lân – Phương Mạnh, sở nông nghiệp Hậu Giang, 1991.
     7.Nguyễn Lộ Trạch - Điều trần và thơ văn. Tg Mai Cao Chương - Đoàn Lê Giang, nhà xb Khoa học Xã hội, 1995.
     8.100 năm lời tiên tri của nhà cải cách Nguyễn Lộ Trạch. Tg Đoàn Lê Giang, tạp chí Kiến Thức ngày nay số 88 năm 1992.
     9. Thực trạng nghề kim hoàn truyền thống Huế. Tg Tôn Nữ Khánh Trang - Trần Thanh Hoàng, Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Thông tin Huế.
     10.Tri thức bản địa như là sự thích ứng văn hóa trên sinh cảnh vùng cát: Nghiên cứu tại làng Kế Môn, xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam. Tg Tôn Nữ Khánh Trang, Phân viện Nghiên cứu Văn hóa Thông tin Huế, tháng 5/2004.
     11.Một bậc tiên thời nhân vật cùng thời với Nguyễn Trường Tộ ít ai biết: Nguyễn Lộ Trạch - Di cảo cụ Minh Viên. Bà Nguyễn Thị Nghiên. Anh Minh xuất bản năm 1966.
 
     *Thời điểm hình thành và ý nghĩa tên làng Kế Môn
 
     Vấn đề này được tác giả nêu ra ở phần mở đầu, xem như là phần dẫn nhập, nên không chuyên sâu vào đề tài, vì vậy mà còn quá sơ sài và chưa thuyết phục. Xin trích đăng nguyên văn đoạn này. (Còn những phần cốt lõi khác từ 2 đến 7, vì quá dài và không liên quan trực tiếp tới đề tài, nên tạm thời xin độc giả đọc trên trang langkemon.com.vn, mục “giới thiệu”, bài “Lịch sử làng Kế Môn - Quê hương ta đẹp vô ngàn”, ban biên tập chúng tôi sẽ cho đăng lại trên trang này ở cuối phần tham luận). Tác giả viết:
 
     “Như năm 1306, vua Trần Anh Tông đem gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân. Vua Chế Mân dâng hai châu là châu Ô và châu Lý làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân. Việc bán gả này đã mở rộng công cuộc Nam tiến vượt qua sông Gianh đến tận Thuận Quảng.
 
     Năm 1307, vua Trần Anh Tông cử Đoàn Nhữ Hài vào tiếp nhận vùng đất mới và đổi tên châu Ô thành châu Thuận (gồm quận Triệu Phong, Hải Lăng và Phong Điền), đổi châu Lý thành châu Hóa (gồm Quảng Điền, Hương Trà, Diên Phước và Hòa Vang).
 
     Cuộc Nam tiến từ Thanh Hóa đi dần vào Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình... Mở mang đến đâu thì chiêu mộ dân cư đến đó, đồng thời sử dụng lực lượng hàng binh và tù binh để cùng khai khẩn mở rộng bờ cõi. Từ đó mở ra một giai đoạn mới, một truyền thống mới, rồi đặt tên tỉnh, tên huyện, tên xã, tên làng..., lập họ, lập phái...
 
     Làng Kế Môn cũng ra đời từ bối cảnh lịch sử đó. Theo tài liệu về gia phả của các tộc họ, cùng theo sự truyền khẩu, thì hầu hết các vị thủy tổ của làng Kế Môn thuộc gốc từ Thanh Hóa, Nghệ An. Những người đầu tiên vào sinh cơ lập nghiệp chủ yếu là khai hoang, đến vùng đất này vào khoảng đầu thế kỷ 15 (1410), qua lao động và gầy dựng nên giang sơn cẩm tú ngày nay.
 
     Nhưng hai chữ Kế Môn xuất xứ từ đâu? Hai chữ Kế Môn xuất hiện trong cuốn Song Hòe Tuế Sao, cổ học Trung Hoa, thi tập vịnh 10 bài thơ cảnh đẹp Kinh đô 1, Kế Môn Yên Thụ thu tảo của vua Đường Thái tông có câu:
     Hàn kinh kế môn diệp
     Thu phát tiểu tùng chi
     (Lạnh làm kinh động lá kế môn
     Thu thoát ra cành cây tùng bé)
 
     Theo ông Hoàng Ngọc Châu ở Bảo Lộc, trong qua` trình viết truyện ký về làng Kế Môn đã được cụ Nghè Hoàng Công Chung, người được vua triều Nguyễn sắc phong Hàn Lâm Việb Đại Chiếu, cho biết người xướng đặt tên làng Kế Môn là Ngài Hoàng Khối Khanh (1362-1407), người xã Bái Trại, huyện Yên Định (nay là thôn Bái Trại, xã Định Tây, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa), đỗ Thái Học Sinh (Tiến sĩ) khoa Gíap Tý niên hiệu Xương Phù (1384), làm quan đến chức Thái Thú Thăng Hoa (Quảng Nam), trên đường vào nhậm chức đi qua vùng đất này (Kế Môn) đứng trên đĩnh Quy Ngọa (rùa nằm) nhìn ra bốn hướng, thấy thế đất lưỡng long phục địa, đồi cát, đồng ruộng, cây cỏ, sông núi... chạy dài ra cửa phá Tam Giang, Ngài như một sự tiên tri thấu thị, cảm hứng phóng bút đậm nét hai chữ (Kế Môn), một sự khải thị hiển linh của tạo hóa đã khéo sắp đặt. Từ đó theo Nôm tự hai chữ Kế Môn được phổ biến và lan truyền rộng rãi. Kế Môn nghĩa đen là “gần cửa” (Kế là kế cận, là gần, Môn là cửa) nhưng nghĩa bóng rất thâm sâu.
 
     Trước hết chúng ta hãy bàn luận về chữ Kế . “Kế” ở đây là cây cỏ kế. Cỏ kế là loại cỏ có gai nhỏ, hoa màu tím đỏ thuộc họ Cúc. Có hai loại cỏ kế: Đại Kế và Tiểu Kế đều dùng làm thuốc. Ngoài nghĩa “kế cận”, “gần” còn có ý nghiuã tinh túy hơn như “kế hoạch”, “kế sách”, “kế lược”, đại kế, v.v...Chữ Kế viết theo Nôm tự gồm bốn bộ hợp thành:
     -Bộ Thảo :là thảo mộc, cây cối tượng trưng rừng rú bao che phủ đất, bảo vệ xóm làng, bảo vệ môi trường, v v... Cây cối nguồn lương thực và thực phẩm, nguồn nguyên vật liệu xây dựng, kiến thiết v v...
     -Bộ Điền là đồng ruộng, nương trưa, đất đai canh tác, thổ cư, bao gồm điền địa, đường sá giao thông v.v...
     -Bộ Thủy ,,,,(氵)là sông nước, khe suối, nguồn nước tưới tiêu và cung cấp cho sinh hoạt của con người và muôn thú.
     -Bộ Đao ngoài ý nghĩa tuọng trưng nguồn nước mát xuất phát từ các bàu ở rú Vĩnh Xương-Kế Môn chảy ven qua làng và con đập Đồng Dạ ngăn sóng biển Thuận An tràn lên.
      Riêng bộ Điền kết hợp bộ Thủy tạo thành chữ Ngư là cá, nói lên khả năng thủy hải sản của vùng đất này cũng khá phong phú.
 
     Từ sự tiên tri của ngài Hoàng Khối Khanh khai căn đặt tên làng với chữ “Kế” viết theo chữ Nôm gồm bốn bộ: Thảo, Điền, Thủy, Đao tạo thành, từ đó đến các vị thừa kế tiền bối đã khéo vận dụng phạm trù “tứ” đó vào việc xây dựng làng Kế Môn cũng như tứ quý là bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông vậy.” (hết đoạn dẫn)

      *Vài nhận xét:
 
     Tóm lại,  theo tác giả Nguyễn Thanh Trung thì làng Kế Môn ra đời vào thời Hậu Trần (đầu thế kỷ 15) khoảng năm 1410, trùng với thời kỳ nhà Hậu Trần suy vong. Thời kỳ 1407 - 1414 lãnh thổ Đại Việt trên danh nghĩa vẫn thuộc nhà Hậu Trần, nhưng trên thực tế thì đã bị nhà Minh chi phối. Rồi từ 1414 trở đi, Đại Việt chính thức nằm dưới sự đô hộ của nhà Minh cho đến cuộc khởi nghĩa thành công của Lê Lợi năm 1428. Và trong khoảng thời gian này, lịch sử không ghi nhận có cuộc di dân Nam tiến có tính chất tập thể nào.
 
     Tuy nhiên, vẫn không loại trừ những trường hợp di dân lẻ tẻ mà lịch sử không nói đến. Và điều này cũng không có nghĩa là thời điểm di dân phải trùng khớp với thời điểm thành lập làng, vì có thể sau đó một thời gian khi quy tụ đủ số dân, làng mới ra đời, nghĩa là các cụ tiền bối Kế Môn có thể đã di cư vào Thuận Hóa trước đó, vào thời nhà Hồ, trùng khớp với đợt di dân lớn ở thời điểm này (khi nhà Hồ cho tiến hành cải tạo lại con đường thiên lý từ Tây Đô dẫn vào Thuận Hóa).  
 
     Về ý nghĩa của hai từ Kế Môn là tên của làng, theo tác giả, có hai nghĩa: “nghĩa bóng” và “nghĩa đen”. Nghĩa bóng mang ý nghĩa điển tích, hàn lâm (hàn kinh kế môn diệp), được cho là do ngài Hoàng Hối Khanh khởi xướng dựa trên chữ Kế có nghĩa là cây cỏ kế. Còn nghĩa đen là “gần cửa” (ý nói gần cửa Eo – Thuận An bây giờ). Rõ ràng đây là cách lý giải và diễn đạt có phần sơ sài, mang tính suy diễn hơn là căn cứ trên ý nghĩa thực tế căn bản của hai chữ Kế Môn, vốn là hai từ Hán Việt (chữ Hán đọc theo âm Việt). Có lẽ vì vậy mà tác giả mới gọi là “nghĩa bóng”, vì đã là nghĩa bóng tất mang tính suy diễn nhiều hơn là nghĩa thực, mà thói thường thì suy diễn theo hướng tích cực, để tốt hơn, đẹp hơn, thậm chí ly kỳ hơn, trở thành như truyền thuyết.  Còn nghĩa đen là nghĩa dân dã. Đã là dân dã thì không cần phải hàn lâm, người nông dân chỉ đơn giản nghe hai tiếng Kế Môn thì có thể nhớ ra một điều gì đó cụ thể, chân chất và gần gũi nhất. Phải chăng đó là “gần cửa”?!
 
     Như vậy, cách giải thích của tác giả Nguyễn Thanh Trung về hai vấn đề: “thời điểm hình thành làng và ý nghĩa tên làng”, ở trong phần mở đầu tập tài liệu: “Làng Kế Môn - Một làng quê ở Việt Nam đẹp và giàu", chỉ mang tính khái quát, giới hạn ở vai trò dẫn nhập hơn là trình bày chuyên sâu vấn đề. Phần trọng tâm mà tác giả muốn trình bày vốn nằm ở những đề mục còn lại. Như về địa lý tự nhiên, giao thông vận chuyển, tổ chức khu dân cư, xây dựng đồng ruộng, nhân văn khoa bảng và nghề kim hoàn. Đây mới là những vấn đề thuộc về thực tiễn, về nét đẹp hiện hữu của làng Kế Môn, chứ không phải là vấn đề thời điểm hình thành hay ý nghĩa của tên làng, vốn còn khá mơ hồ, trừu tượng, chỉ lần mò qua các tài liệu truyền khẩu không lấy gì làm chắc chắn cho lắm. Mà lại truyền khẩu qua người trong cuộc, trong làng thì mức độ khách quan không cao. Nhiều khi nó lại được thêu hoa dệt gấm trở thành truyền thuyết, thậm chí thành huyền sử.
 
    *Nguyễn Thanh Mạo
    (giới thiệu và bình)
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 11
Tổng truy cập: 554.871