Thông báo

28/012018

Tham luận về nguồn cội (bài 2)

SUY NGHĨ VỀ
THỜI ĐIỂM HÌNH THÀNH & Ý NGHĨA TÊN LÀNG KẾ MÔN
 (Ý KIẾN CỦA TÁC GIẢ THẢO DÂN)
.
      Chúng tôi xin đăng nguyên văn bài viết của tác giả được viết vào năm 2013 dưới đây, sau đó sẽ có một vài nhận xét riêng. Bài viết như sau:
 .
    “Năm 1306, dười thời vua Trần Anh Tông, hai châu Ô, Lý được vua Chiêm là Chế Mân dâng cho Đại Việt làm sính lễ xin cưới công chúa Huyền Trân, con gái của Thái Thượng hoàng Trần Nhân Tông, sau này chính là thủy tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Kể từ thời điểm lịch sử ấy, suốt một thời gian dài hơn ba trăm năm : qua các đời vua Trần kế tiếp (1307-1400), nhà Hồ (1400-1407), nhà Hậu Trần (1407-1413), thời kỳ thuộc Minh (1414-1427), rồi triều Lê sơ (1428-1527), nhà Mạc (1527-1592) tồn tại song song với nhà Hậu Lê, chúa Trịnh, cho đến ngày Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ  (1558), vùng đất Thuận Hóa này đã tiếp nhận nhiều đợt di dân có quy mô và thành phần khác nhau, từ miền Bắc, đặc biệt là vùng Thanh-Nghệ, vào khai phá sinh cơ lập nghiệp, đã biến vùng đất vốn hoang sơ, hiểm trở và thưa dân của người Chiêm bản địa này, thành nơi đông đúc trù phú, để rồi sau đó, trở thành kinh đô của một  nước Đại Việt thống nhất dưới triều đại nhà Nguyễn.
 .
     SỰ HÌNH THÀNH CỦA LÀNG
.
     Làng Kế Môn cũng đã được hình thành từ một trong những đợt di dân lịch sử đó, bằng chính những con người  có gốc gác từ miền đất phía Bắc, là vùng Tây đô một thời đó của nước Việt. Điều này được chứng minh  qua gia phả của các tộc họ hiện còn lưu giữ. Tuy nhiên, về thời điểm hình thành của làng, do không còn những tư liệu thành văn cụ thể chứng minh, nên khó có thể xác định được một cách chính xác. Theo tác giả Nguyễn Thanh Trung trong cuốn “Làng Kế Môn - Một làng quê ở Việt Nam đẹp và giàu”, qua tham khảo một số tài liệu, thì làng Kế Môn được hình thành vào đầu thế kỷ 15 (khoảng 1410), tức vào thời kỳ phục hồi ngắn ngủi rồi suy vong của nhà Hậu Trần, đã đưa đất nước lọt vào ách thống trị bạo tàn của nhà Minh mười mấy năm sau đó, cho đến khi Lê Lợi khởi nghĩa giành lại độc lập (1428). Còn theo nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh trong bài viết về “Diễn trình khai canh lập ấp…” mở đầu cho cuốn “Lược sử Họ Trần tại Thừa Thiên-Huế” thì làng Kế Môn đã hình thành cùng thời điểm với các làng Vĩnh Xương, Phước Tích, Cổ Bi, Hiền Sĩ,…vào thời vua Lê Thánh Tông, cụ thể là từ năm 1471đến 1473 , nghĩa là nửa cuối thế kỷ 15, tức là vào thời kỳ cực thịnh của triều đại Lê sơ, mà dấu ấn lịch sử là  luật Hồng Đức, bộ luật ra đời đầu tiên của nước Đại Việt.
.
      Như vậy, đâu là thời điểm hình thành làng chính xác nhất ? 1410 hay mãi tới 1471? Tại sao lại có sự chênh lệch về thời gian lớn như vậy? Ta hãy thử lần giở lại lịch sử để hình dung qua các đợt di dân có tổ chức đã diễn ra lần lượt qua các thời điểm trong quá khứ  như sau:

     -Đợt 1 : Từ 1307,  ngay sau khi tiếp quản hai châu Ô, Lý từ nước Chiêm, nhà Trần cử Đoàn Nhữ Hài vào cai trị và đổi thành hai châu Thuận, Hóa. Đồng thời “chọn người bản xứ làm quan, cấp ruộng  miễn tô thuế ba năm”*. Đây có thể gọi là đợt di dân sơ khởi  của người Việt từ phía Bắc vào Thuận Hóa khẩn hoang, sinh cơ lập nghiệp, tạo lập làng xã mới. Tuy nhiên do tình hình chính trị và xã hội nơi đây còn khá phức tạp : bên trong dân bản địa  chưa chịu thuần phục,  ngoài biên giới người Chăm vẫn không ngừng quấy phá, khiến dân tình khổ sở, do vừa phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt của vùng đất này, vừa phải gồng mình chống đỡ ngoại xâm. Vì vậy vùng đất mới này vẫn chưa thu hút được nhiều cư dân  từ nơi khác đến.
.
     -Đợt 2: Thời nhà Hồ (1400-1407) khi Hồ Hán Thương, trong ý đồ mở rộng bờ cõi về phía Nam, đã cho mở con đường “thiên lý”* từ Tây Đô đến Thuận Hóa, đồng thời thực hiện chính sách khuyến khích cư dân vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh vào khai hoang lập ấp không chỉ ở Thuận, Hóa mà còn ở Nam, Ngãi. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, nhà Hồ, rồi đến nhà Hậu Trần cũng bại vong, đất nước lọt vào ách thống trị của nhà Minh. Từ đó  kế hoạch của họ Hồ cũng dở dang. Mặt khác, đây cũng là thời kỳ mà ở phía mặt Nam, quân Chăm-pa vẫn thường  tấn công quấy rối vào châu Hóa, khiến dân tình chẳng hề yên ổn. Vì vậy, có thể nói  đợt di dân này cũng có tầm hạn chế như đợt đầu tiên..
.
     -Đợt 3 : Từ năm 1471, ngay sau khi vua Lê Thánh Tông bình định được hoàn toàn giặc Chiêm ở phía Nam, và trước đó ở phía Bắc, giặc Minh đã bị đánh đuổi xa khỏi bờ cõi, tình hình chính trị, xã hội ờ vùng Thuận Hóa này  bắt đầu ổn định, nhân dân yên ổn làm ăn, thì những đợt di dân Nam tiến lớn có tổ chức  mới có điều kiện thực hiện. Ở đợt di dân này, nhà nước khuyến khích  bằng việc hỗ trợ phần vật chất lúc ban đầu, đi kèm với một chính sách khuyến nông phù hợp để nông dân khai hoang, lập làng. Có thể nói đây là đợt di dân rầm rộ nhất, đã làm tăng diện tích đất canh tác, tăng số dân và các đơn vị làng xã  vùng châu Hóa.*
.
      -Đợt 4 : Từ năm 1558 khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, theo lời sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, với ý đồ biến vùng đất chiến lược này thành đất “trụ chân” muôn đời cho giòng họ Nguyễn, thì một đợt “theo chân” di dân mới cũng được thực hiện. Trong đó, vừa là dân vừa là quân, chủ lực từ Thanh Hóa, là quê hương của Chúa, và vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, cùng một số tỉnh khác phía Bắc. Ngoài ra, ngay tại chỗ, Nguyễn Hoàng cũng bắt được một số lớn tù binh từ quân Mạc của Lập Bạo, và từ quân Trịnh sau này, để rồi biến số binh lính này thành một lực lượng khai hoang lập làng đáng kể.
.
      Như vậy, tổ tiên con dân làng Kế Môn, chính xác đã di dân từ Thanh-Nghệ  vào châu Hóa (Thừa Thiên-Huế ngày nay) trong đợt nào, cùng một đợt để tạo ra “thập nhị tôn phái” (tức 12 họ tộc) hay nhiều đợt, kéo dài trong bao lâu, và từ đó có thể suy ra làng Kế Môn đã được thành lập và đặt tên chính thức trong khoảng thời gian nào.
.
     Nhìn lại một thực trạng ở làng  là trải qua bao đợt chiến tranh tàn phá, gia phả cũng như các tài liệu thành văn khác của một số tộc họ ở làng hầu như đã bị tiêu hủy, thất lạc. Một số tộc, chi phái may mắn hơn còn lưu giữ được gia phả giòng họ, từ vị thủy tổ cho đến thế hệ hậu duệ ngày nay. Từ đó, tính ra  mỗi tộc họ đã có một lịch sử phả hệ bình quân trên dưới 20 đời. Tiếc rằng, yếu tố thời gian, vốn là “tiếng nói căn bản” của lịch sử, đã không được chú trọng để ghi chép cho thật rõ ràng, đầy đủ, thậm chí còn bỏ trống!
.
      Mặt khác, những vị cao niên có chút vốn liếng Hán học, am hiểu phần nào lịch sử của làng, theo thời gian đã lần lượt qua đời, không di chúc lại gì cho lớp hậu sinh. Ngay như, những danh nhân khoa bảng, là niềm tự hào của làng Kế Môn xưa nay, như cụ nghè Nguyễn Thanh Oai (1816-1876), cụ nghè Trần Dĩnh Sĩ (1858-1914), hay cụ Nguyễn Lộ Trạch (1853-1898),… có lẽ cũng không để lại cho con cháu đời sau tài liệu nào nói về lai lịch cũng như sự hình thành của làng. Có thể là có, nhưng đã bị thất lạc chăng? Để bây giờ, con dân làng Kế Môn lớp hậu duệ, muốn tìm hiểu, muốn nghiên cứu về lịch sử hình thành của làng cũng đành bó tay!
.
    Bởi vậy, chúng tôi nghĩ rằng, chỉ có một cách là “nhờ người ngoài”! Từ đây chúng tôi có “tham vọng” tổ chức  một cuộc hội thảo, trong đó ngoài thành phần đại diện con dân làng có tâm huyết cả trong nước lẫn hải ngoại, bao gồm các nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà chuyên môn có  trăn trở với những vấn đề của làng; còn có sự tham dự và tham luận từ các nhà nghiên cứu có tiếng tăm trong “Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế”, để thảo luận về một chủ đề : “Làng Kế Môn, lịch sử hình thành và phát triển 600 năm”!
.
       Trong khi chờ đợi một cuộc hội thảo như đề nghị, chờ đợi những gì cần được làm sáng tỏ, thiết nghĩ, từ các tài liệu tham khảo hiện có trong tay, với cái nhìn so sánh trên thực tế từ nguồn gốc hình thành của các làng lân cận, những làng còn may mắn biết rõ được gốc gác lai lịch của mình, chúng ta có thể tạm thời đưa ra một thời điểm hình thành của làng khả dĩ chấp nhận, căn cứ trên những cứ liệu như sau:
.
      1- Thời điểm  năm 1410, theo chúng tôi, khó có thể xảy ra, vì trong thời kỳ nhà Hậu Trần suy vong này, lịch sử không ghi nhận có đợt di dân Nam tiến nào.
      2- Trong lộ trình di dân, làng Thanh Hương (tức Hương Triền cũ) được cho là hình thành sớm cùng với các làng khác phía bờ hữu sông Ô Lâu như Mỹ Xuyên, Ưu Điềm,…Và từ các nguồn tài liệu khả tín như “Ô châu cận lục” của Dương Văn An, “Phủ biên tạp lục” của Lê Qúy Đôn,…có thể phán đoán làng Thanh Hương đã hình thành trong khoảng thời gian từ năm 1440 đến 1450.
      3- Nếu so với làng Thanh Hương thì làng Kế Môn, cũng như Vĩnh Xương, Trung Đồng,…đều hình thành muộn hơn, cũng như làng Đại Lộc và Thế Chí còn muộn hơn nữa (sau năm 1558, thời Nguyễn Hoàng), phù hợp với trình tự khai hoang lập làng lần lượt từ phía Bắc mở dần vào phía Nam trên dải đất duyên hải này, cho tới cửa Eo (tức cửa Thuận An ngày nay).
      4- Lấy phả hệ dài nhất của một vài họ trong làng là 23 đời (đến thời điểm 2012). Nếu tính mỗi thế hệ cách nhau tối đa là 25 năm (chưa kể thời gian trước đây, với nghề nông, phổ biến có tục lấy vợ sớm, từ 18 hoặc 20 tuổi) thì tổng cộng  25 X 22 = 550 năm là lịch sử của một giòng tộc. Suy ra lịch sử của làng là 525 năm (nếu vị thủy tổ đến làng lúc thành lập là 25 tuổi). Vậy 2012-525 = 1487 là năm  sớm nhất (hay sai số cộng trừ 10 hoặc 15 năm) có thể là thời điểm thành lập làng.
.
      Từ các cứ liệu trên có thể suy ra rằng  phán đoán của nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh về thời điểm hình thành làng Kế Môn là khá chính xác. Nghĩa là trùng khớp vào đợt di dân có quy mô lớn (đã hình thành mới gần 100 làng tại Thừa Thiên Huế) thời vua Lê Thánh Tông, cụ thể là vào các năm 1471, 1472, 1473 (tức là sau làng Thanh Hương trên dưới khoảng  25 năm).
   .
      LAI LỊCH VÀ Ý NGHĨA TÊN LÀNG  
.
       Về lai lịch và ý nghĩa hai từ Kế Môn  là tên của làng, cho đến nay đã có vài tài liệu thành văn cũng như truyền khẩu, xuất xứ từ nội bộ con dân của làng muốn nghiên cứu tìm hiểu lịch sử của làng. Tuy nhiên  nếu xét kỹ những tài liệu ấy, sẽ phát hiện một vài điểm có ít nhiều mâu thuẩn và chưa thuyết phục.
.
    Theo nhà thơ Hoàng Ngọc Châu, hiện sống ở Bảo Lộc, Lâm Đồng (qua trích dẫn của học giả Nguyễn Thanh Trung trong cuốn sách viết về Làng Kế Môn đã nói tới ở trên),  thì người xướng đặt tên “Kế Môn” cho làng là  ngài Hoàng Khối Khanh (có tài liệu ghi chữ lót là Hối, không phải Khối). Cũng theo sử liệu, cụ Hoàng Hối Khanh (1362-1407), người xã Bái Trại, huyện Yên Định (nay là thôn Bái Trại, xã Định Tây, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa), đỗ Thái học sinh khoa Giáp Tý, niên hiệu Xương Phù thứ 8 (1384), làm quan đến chức An Phủ Sứ. Qua thời nhà Hồ, ông được bổ Thái thú Thăng Hoa (Quảng Nam). Năm 1407, giặc Minh xâm lược, nhà Hồ bại vong, Chămpa thừa cơ hội  đánh chiếm lại Thăng Hoa, Hoàng Hối Khanh tháo chạy về Hóa Châu  rồi vượt biển ra Nghệ An nhưng bị thổ dân bắt nộp cho giặc Minh. Ông tự sát*.
.
      Sở dĩ cụ Hoàng Hối Khanh được dân Châu Hóa biết tới là do tập truyền, vào cuối thời nhà Trần, làng Thụy Lôi (tức vùng kinh thành Huế ngày nay) nguyên là đất phong ấp của ông. Còn việc ông “đặt tên” cho làng Kế Môn, (theo cuốn “Làng Kế Môn…” của tác giả Nguyễn Thanh Trung đã trích dẫn) thì đó là từ một dịp tình cờ khi (nguyên văn): “trên đường vào nhậm chức, đi qua vùng đất này (Kế Môn), đứng trên đỉnh Quy Ngọa (rùa nằm) nhìn ra bốn hướng, thấy thế lưỡng long phục địa, đồi cát, đồng ruộng, cây cỏ, sông núi…chạy dài ra cửa Phá Tam Giang”, ông đã “cảm hứng phóng bút đậm nét hai chữ “Kế Môn”…”*
.
     Có một chi tiết đáng lưu ý cần được làm rõ về “giả thuyết” này . Theo sử liệu, ngài Hoàng Hối Khanh đã qua đời năm 1407, trong lúc làng Kế Môn lại được cho là hình thành từ 1410, hay còn muộn hơn nữa (như trên đã chứng minh) vào hơn 60 năm sau (năm 1471). Như vậy há lẽ cụ Hoàng, khi còn sống, đã “đặt tên” trước cho một làng chưa hình thành?  Hoặc giả nếu cụ có cảm hứng “gọi tên”, “vinh danh” cho một “vùng đất”  với địa hình khá đặc biệt như đã mô tả, thì vùng đất chưa hình thành làng này, ắt sẽ bao gồm cả làng Vĩnh Xương và Đại Lộc tiếp giáp kế cận, chứ không riêng gì Kế Môn (vì địa hình các làng này hao hao giống nhau, cùng liên tục trên một dãi đất). Và một chi tiết nhỏ: đỉnh Quy Ngọa là đỉnh nào còn thấy hiện nay ở vùng đất này? Có phải là độn Mít Nài của Kế Môn?
.
     Như vậy, thật ra ai là người đã đặt tên cho làng Kế Môn? cụ Hoàng Hối Khanh, một vị khách nào khác, hay do chính tổ tiên của làng? Ta hãy xem hai từ  “Kế Môn” có ý nghĩa như thế nào. Nó hàm chứa ý nghĩa cao xa, thâm sâu hay chỉ mang tính đơn sơ dân dã, để rồi từ đó, có thể suy ra người đặt tên thuộc vào hạng người nào, tầm hiểu biết của họ ra sao, bình dân hay khoa bảng.
.
     Ai cũng biết ngày xưa, thời Hán học, hầu như các địa danh đều  mang chữ Hán. Ví dụ Vĩnh Xương, Ưu Điềm, Chí Long, Hương Triền hay Thuận Hóa, Phú Xuân…Kế Môn cũng không ngoại lệ. Điều phổ biến nữa là các làng ở Thừa Thiên  Huế đều ghép bởi hai từ, hiếm thấy một làng nào mang một từ đơn hoặc ba từ (trừ trường hợp một làng được tách thành hai, để phân biệt cần có thêm chữ “thượng” hay “hạ”, “đông” hay “tây” phía sau). Hai từ ấy thường bổ nghĩa cho nhau để nói lên một ý nghĩa chung cho tên làng.
.
     Theo bác Trần Duy Cường, năm nay 82 tuổi, nguyên trước đây là học trò của cụ nghè Bùi Viết Quách (còn gọi là cụ Nghè Biên), hiện đang sống tại Đà Lạt, thì hai từ Hán “Kế Môn” xuất hiện trong cuốn “Song Hòe Tuế Sao”, một thi tập cổ của Trung Hoa, vịnh mười bài thơ về cảnh đẹp ở kinh đô (Trung quốc), trong đó có bài “Kế Môn Yên Thụ thu tảo” của vua Đường Thái Tông, với hai câu tiêu biểu:
.
                        “Hàn kinh kế môn diệp
                         Thu phát tiểu tùng chi”
     (Tạm dịch : “Lạnh làm kinh động lá kế môn
                         Thu làm nẩy phát cành tùng bé”)
.
    “Kế môn diệp” ở đây là “lá kế môn” nghĩa là  có một cây gọi là cây kế môn. Vẫn theo bác Cường, cây kế môn ở đây chính là cây cỏ kế. Cỏ kế là loại cây  có gai nhỏ, hoa màu tía thuộc họ Cúc. Đây cũng chính là loại hoa (có tên tiếng Anh là thistle) mà dân Tô-Cách-Lan (Scotland – xứ làm ra rượu whisky nổi tiếng) tôn chọn làm quốc hoa cho xứ mình. Như vậy, nếu tên làng Kế Môn được hiểu theo nghĩa này, thì từ “môn” là từ ghép, là bổ nghĩa cho từ “kế” chứ không có ý nghĩa gì cả.
.
      Trong khi đó thì trên trang mạng langkemon.com.vn mới đây, nhà Huế học có danh xưng là  Phanxipang, có sưu khảo và nhắc đến một bài thơ Đường cổ (cũng của Trung Hoa) có tên là “Vọng Kế Môn” của tác giả Tổ Vịnh. Trong đó “Kế Môn” có nghĩa là “Cổng của Kế Thành”. Mà Kế Thành là kinh đô  của nước Kế, một tiểu quốc từng tồn tại từ thế kỷ 16 đến thế kỷ thứ 7 trước công nguyên bên Trung Hoa (chính là một phần đất nào đó của thủ đô Bắc Kinh hiện nay). Tài liệu này tất nhiên cần được kiểm chứng, nhưng với ý nghĩa đó, từ Hán “Môn” trong “Kế Môn” mới có nghĩa là “cửa”, là “cổng”.
.
     Theo chúng tôi, muốn biết ý nghĩa hàm chứa thực sự mà người đặt muốn gởi gắm vào hai từ “Kế Môn”, ta phải biết là ngay từ lúc đầu, hai chữ ấy đã được viết theo Hán tự như thế nào. Bởi “Kế” có nhiều chữ kế, viết  khác nhau và mang ý nghĩa khác nhau. “Môn”  cũng vậy. Tại Đình làng hiện nay, bức hoành mang ba chữ “Đình Kế Môn” trên cửa chính điện với chữ  “Kế” (chữ này không thấy ghi trong từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh), nếu có nghĩa là “cây cỏ kế” thì có thể chấp nhận, nhưng còn chữ “Môn”, viết như vậy rõ ràng chỉ có nghĩa là cổng, là cửa. Nếu ghép hai từ lại sẽ là “cổng cây cỏ kế” hay “cổng bằng cỏ kế” hay sao? Một điều thắc mắc nữa là không biết qua bao nhiêu lần trùng tu ngôi Đình, từ trong quá khứ xa xưa đến nay, ba chữ “Đình Kế Môn” này ở Đình làng có còn nguyên vẹn như thuở ban sơ không hay đã  “tam sao thất bổn”?    
.
        Lẽ tất nhiên, là con dân của làng, ai cũng muốn làng mình có cái tên “đẹp”, có ý nghĩa, thậm chí có nhiều nghĩa, cả nghĩa gần lẫn nghĩa xa, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Với chữ “Kế”, viết như trên, rõ ràng nó kết hợp nhiều “bộ” trong chữ Hán: bộ “thảo”, bộ “thủy”, bộ “điền” và cả bộ “đao”. Nghĩa là nó hàm chứa một địa hình có đầy đủ cả sông núi, cây cỏ, ruộng vườn, trong đó  dồi dào nông, lâm, ngư sản, mang lại triển vọng ấm no cho cư dân. Nếu đó chính là ý nghĩa thâm sâu của cái tên  thì người đặt hẵn phải là một nhà Nho rất mực uyên thâm. Còn nếu “vận dụng” tên làng để hiểu theo một nghĩa bình dân, gần gũi với nông dân bản địa hơn, đơn giản như “kế” là “gần”, “môn” là “cửa”,  với ý nghĩa vùng đất Kế Môn là một địa danh gần cửa biển Thuận An, hay cửa phá Tam Giang, thì cũng không có gì là lệch lạc.
   .
     *THAY LỜI KẾT
.
      Như vậy, vấn đề “thời điểm hình thành làng”, cũng như “lai lịch và ý nghĩa của tên làng” Kế Môn, một khi chưa truy được nguồn tài liệu, chứng cứ xác đáng để làm sáng tỏ, thì cũng nên bình tĩnh mở ngõ trên nhiều diễn đàn, để con dân làng trên khắp mọi miền đất nước và hải ngoại, có thể đóng góp và tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu. Trong chiều hướng đó, song song với các vấn đề khác cần tìm hiểu liên quan đến cội nguồn của làng như “Lễ Tiếu Kỳ” mười hai năm một lần của các Tộc họ, tục “Lộn Gươm” trong các Lễ tang, là những sự kiện mà các làng khác trong Thừa Thiên  Huế, thậm chí trong cả nước không hề có, chúng ta có thể hướng tới việc tổ chức một cuộc hội thảo mà khách mời tham luận là những nhà nghiên cứu có tầm vóc về Huế học như đã đề cập ở trên.
.
      Có thể nói “tìm về cội nguồn” là một quá trình  phức tạp và lâu dài, đòi hỏi tính chịu khó và kiên nhẫn. Có thể  thế hệ này không làm được nhưng cơ hội sẽ đến với các thế hệ mai sau. Vẫn còn đó rất nhiều làng ở Thừa Thiên Huế nói riêng và địa danh ở Việt Nam nói chung chưa ai tìm ra niên đại hình thành chính xác cũng như lai lịch ý nghĩa thuyết phục của tên riêng được đặt cho. Đó cũng là điều bình thường  bởi trải qua bao triều đại, vật đổi sao dời, các tài liệu thành văn và truyền khẩu, mất mát, mai một là điều khó tránh khỏi.
    Cũng như địa danh Sài Gòn hiện nay, dù chỉ mới  tồn tại hơn ba trăm năm, mà hậu thế vẫn chưa truy nguyên được từ “Sài-gòn” xuất xứ từ đâu. Rồi địa danh “Huế” cũng vậy, cũng mới ra đời chỉ chừng ấy thời gian, mà hiện vẫn đang trong vòng bàn luận, chưa xác định được lai lịch của từ “Huế” do đâu, nghĩa là gì. Nói chi đến địa danh “Kế Môn” vốn đã tồn tại ngót sáu trăm năm.
.
     Mong rằng, với sự quan tâm của con dân làng thuộc lớp trẻ và thế hệ mai sau, với sự giúp sức của các nhà nghiên cứu từ mọi nơi về đất Thuận Hóa năm xưa, một ngày nào đó trong tương lai, những điều vướng mắc trên sẽ được giải tỏa”.
 
    *Tài liệu tham khảo : Các bản dịch của Ô châu cận lục - Dương Văn An, Phủ biên tạp lục - Lê Qúy Đôn; Lược sử Họ Trần Thừa Thiên Huế - Trần Đại Vinh; Làng Kế Môn - một làng quê đẹp và giàu - Nguyễn Thanh Trung; Cố đô Huế xưa và nay - Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên Huế; Địa Chí Phong Điền - 2005); Các triều đại Việt Nam - Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng; Từ điển Hán Việt - Đào Duy Anh. (hết bài viết)
 
     *Vài nhận xét của www.langkemonsaigon.com:
 
      -Về thời điểm hình thành làng:
 
       Theo tác giả, làng được thành lập trong khoảng thời gian 1471-1473, nghĩa là sau khi vua Lê Thánh Tôn vừa đại thắng quân Chiêm, đẩy lùi biên giới Việt Chiêm về tận phía Nam, vùng Thuận Hóa trở nên yên ổn, không còn là phên dậu như trước, mở ra điều kiện thuận lợi cho một đợt di dân lớn, trong đó có các vị tiền bối của làng Kế Môn.
 
      Cứ nhìn vào các sách báo mà tác giả đã tham khảo ở trên, sẽ thấy rằng có hai tài liệu rất gần gũi minh chứng cho điều này. Đó là cuốn “Lược sử họ Trần Thừa Thiên Huế” của Trần Đại Vinh (2012) và cuốn “Địa chí Phong Điền” của UBND huyện Phong Điền (2005). Trong đó tác giả Trần Đại Vinh đã viết như sau trong phần “Tổng quan về diễn trình khai canh lập ấp tại Thừa Thiên Huế” (trang 18-19):
 
     “Qua điền dã nghiên cứu các tài liệu làng xã, tộc họ tại địa phương, chúng tôi đã xác định được trên 100 làng tại Thừa Thiên Huế được thành lập khoảng năm 1471 đến 1473 liền sau đại thắng của vua Lê Thánh Tông như làng Thanh Phước nói trên như sau:
      -....
      -Làng An Lỗ, Đông Dã, Thượng An, Bồ Điền, Phò Ninh, Cổ Bi, Hiền Sĩ, Phước Tích, Trạch Phổ, Vĩnh An, Kế Môn, Trung Đồng, Vĩnh Xương vốn thuộc huyện Phong Điền.”

       Ngoài ra để so sánh với thời điểm ra đời của làng Thanh Hương, ở trang 41 còn có đoạn: "Làng Thanh Hương ngày nay, tức là làng Hương Triền đã có tên từ thế kỷ XV, thuộc vùng đất Hóa Châu, huyện Trà Kệ, xứ Thuận Hóa trong thời kỳ 1307-1450. Nơi đây là vùng đất hoang sơ được tổ tiên lập làng khá sớm vào giai đoạn Nam tiến của đất nước những năm 1440-1450."
 
      Còn ở “Địa Chí Phong Điền” trong phần Nam tiến thời Lê Sơ (trang 156) thì cho rằng: “Con đường di dân từ phía bắc vào diễn ra mạnh mẽ trên đất Phong Điền đầu thế kỷ XV, đặc biệt là các làng ven sông Ô Lâu mà qua tư liệu cho phép xác định khá rõ ràng. Đó là các làng Đa Cảm (nay là Mỹ Xuyên), Đàm Bổng (Ưu Điềm), An Triền (Hòa Viện), Bến Thu (Phú Nông), vạn Ma-Nê. Các nguồn tư liệu điền dã tại địa phương cũng cho phép nhận định một số làng ven sông Ô Lâu như Vĩnh Cố (Vĩnh An), Phò Trạch, Đường Long (Chí Long), Chánh Lộ (Chánh Lộc)...,dọc theo bờ biển Phong Điền từ bắc vào có các làng Trung Tuyền (Trung Đồng), Kế Môn, Thế Chí... cũng ra đời trong giai đoạn này.”  (Đầu thế kỷ XV ở đây tác giả muốn nói là thời Lê Sơ, không phải thời Trần, Hồ hay Hậu Trần).
 
     -Về ý nghĩa tên làng:
 
      Tác giả Thảo Dân còn nghi ngờ với ý kiến cho rằng hai từ “Kế Môn” là do ngài Hoàng Hối Khanh khởi xướng và đặt cho, bởi chưa nhận ra có chứng cứ gì thuyết phục về mối quan hệ giữa nhân vật lịch sử (trên đất Thuận Hóa) này với bản thân ngôi làng cả. Không lẽ là từ một dịp “tình cờ”? Một cái tên của làng lại ...tình cờ được một người khác đặt cho chăng?!
 
     Tất nhiên ở đây, tác giả đã không có điều kiện về kiến thức Hán học để phân biệt và phân tích  ý nghĩa của hai từ Kế Môn, bởi Thảo Dân (tức đồng hương Nguyễn Vinh Lộc tại Sài Gòn) chỉ tốt nghiệp khoa kinh tế, một lĩnh vực thuộc về khoa học xã hội, không phải văn chương hay nghiên cứu lịch sử. Cho nên vấn đề mà tác giả quan tâm là Ai đã khởi xướng tên Kế Môn này? Nếu người khởi xướng là một nhà Nho uyên thâm thì ý nghĩa tất phải khác với  dân dã. Phải chăng là do ngài quan văn Hoàng Hối Khanh hay do chính một vị tiền bối sáng lập làng? Từ đó mới có thể xác định nghĩa thực của hai từ Kế Môn.
 
      Như vậy, về ý nghĩa tên làng, tác giả vẫn để ngỏ khi chưa tìm ra được một cách giải mã nào hợp tình hợp lý có thể tin cậy được. Bởi vì theo Thảo Dân:
.
      “Có thể nói “tìm về cội nguồn” là một quá trình phức tạp và lâu dài, đòi hỏi tính chịu khó và kiên nhẫn. Có thể  thế hệ này không làm được nhưng cơ hội sẽ đến với các thế hệ mai sau. Vẫn còn đó rất nhiều làng ở Thừa Thiên Huế nói riêng và địa danh ở Việt Nam nói chung chưa ai tìm ra niên đại hình thành chính xác cũng như lai lịch ý nghĩa thuyết phục của tên riêng được đặt cho. Đó cũng là điều bình thường bởi trải qua bao triều đại, vật đổi sao dời, các tài liệu thành văn và truyền khẩu, mất mát, mai một là điều khó tránh khỏi.

    Cũng như địa danh Sài Gòn hiện nay, dù chỉ mới  tồn tại hơn ba trăm năm, mà hậu thế vẫn chưa truy nguyên được từ “Sài-gòn” xuất xứ từ đâu. Rồi địa danh “Huế” cũng vậy, cũng mới ra đời chỉ chừng ấy thời gian, mà hiện vẫn đang trong vòng bàn luận, chưa xác định được lai lịch của từ “Huế” do đâu, nghĩa là gì. Nói chi đến địa danh “Kế Môn” vốn đã tồn tại ngót sáu trăm năm.”
.
     *Nguyễn Thanh Mạo
     Chủ biên www.langkemonsaigon.com
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 7
Tổng truy cập: 554.867