Thông báo

28/012018

Tham luận về nguồn cội (bài 3 - p.1)

LÀNG TA CÓ TỰ KHI MÔ
KẾ MÔN TÊN GỌI TỪ MÔ KHƠI NGUỒN
(Ý KIẾN CỦA TÁC GIẢ TRẦN DUY HUẤN)

 

     Đây là bài viết mới nhất (năm 2018) về đề tài này. Như đã giới thiệu ở phần mở đầu diễn đàn, nội dung bài viết này có nhiều tình tiết mới, và tựu trung là bác bỏ (có phần gay gắt) các ý kiến của những bài viết trước đây. Tôn trọng ý kiến tác giả, chúng tôi xin đăng lại nguyên văn (không thêm bớt hay chỉnh sửa). Mặt khác, vì bài viết quá dài nên chúng tôi xin chia ra làm 2 kỳ: kỳ 1 là phần “thời điểm hình thành làng” và kỳ 2 là phần “giải mã tên làng”. Sau đó chúng tôi mới có vài nhận xét và góp ý. Nội dung phần 1 như sau:

 

“PHẦN MỘT: ĐÂU LÀ NGUỒN CỘI


1- Khái quát quá trình hình thành và phát triển dân cư, làng mạc ở THUẬN HOÁ xưa:
Làng Kế môn của chúng ta xưa vốn là một mãnh đất thuộc châu Ô và châu Rý của nước Chiêm Thành. Vào năm 1306 vua Chiêm là Chế Mân dùng 2 châu này làm sính lể để cưới công chúa nhà Trần nước Đại Việt là Trần huyền Trân ( con gái của thượng hoàng Nhân Tông em của vua Anh Tông) sau khi tiếp nhận nhà Trần đã đổi tên thành Thuận châu và Hoá châu ( theo ranh giới xưa thì từ phía Bắc tỉnh Q TRỊ ngày nay đến huyện Điện bàn tỉnh Q Nam ngày nay) kể từ đó vùng đất này bước vào trang sử mới . Trang sử của người Việt chúng ta . Vì vậy muốn tìm hiểu về cội nguồn của những làng Việt xưa kia thì trước tiên chúng ta phải biết khái quát về dân cư làng mạc của vùng đất này từ thời kỳ ban đầu trở thành lảnh thổ nước ta đến vua Lê Thánh Tông của nhà Lê sơ.


Thời TRẦN: sau khi tiếp nhận vua Anh tông đã cho quan lính vào trấn giữ và thu thuế của người Chiêm còn sống ở đó . Năm 1307 do cuộc nổi loạn của người Chiêm vua đã sai ngài Đoàn nhữ Hài vào chiêu an giảm thuế đồng thời khuyết khích dân ở vùng Thanh hoá Nghệ an di cư vào để lập nghiệp ở vùng đất mới này. Đây là những người Việt đầu tiên chủ yếu sống quanh gần thành Hoá châu và lưu vực các sông . Năm 1307 vua Chế Mân chết do sự việc vua Trần cứu công chúa Huyền Trân khỏi bị thiêu sống với Chế Mân mà nước Chiêm đòi lại đất thuận hoá và thường xuyên cướp phá vùng biên giới. Năm 1311 vua Trần Anh Tông thân chinh đánh chiêm vua chiêm là Chế Củ yếu thế xin hàng. Nhà Trần bắt vua chiêm về an trí ở Gia lâm còn tù binh thì đưa về thành hoá châu. Năm 1312 vua Trần ra chiếu chiêu mộ dân chúng ở vùng Thanh hoá Nghệ an tiếp tục di cư vào Thuận hoá để lập nghiệp. Đây là cuộc di dân lớn nhất trong thời trần .Từ đó các thôn lang của người Việt hình thành sống chung với người bản địa. Cũng như nhà Lý nhà Trần không chủ trương đồng hoá cho nên giữa người Chiêm và Việt đã lần lần sống giao thoa với nhau và tạo thành nét sống đặt trưng của vùng đất này từ văn hoá tục lệ và quan hệ hôn nhân. Trong khoản thời gian nước Chiêm thần phục nước Đại Việt thì số người di cư vào vẫn tiếp tục nhưng rải rác cho đến năm 1367 cuộc chiếm Việt Chiêm xảy ra trong thời gian dài ác liệt nhất là thời của Chế bồng Nga vùng đất từ Tân binh đến Thuận hoá bị quân chiêm chiếm đóng suốt 12 năm . Làng xóm bị quân chiêm thường xuyên cướp phá nên dân chúng điêu linh ruộng đất bỏ hoang nhiều người không chịu nổi phải phiêu bạt xứ khác . Sau khi Chế bồng Nga bị giết chết vào năm 1390 thì quân Trần mới chiếm lại vùng Thuận hoá nhưng mãi đến năm 1393 mới tạm ổn định . Đến năm 1396 cuộc chiến Việt Chiêm mới chấm dứt . Từ đó cuộc sống ở đây dần dần phục hồi trở lại .châu Hoá ở thời Trần có 7 huyện . Huyện Phong điền ngày nay xưa là huyện Bồ đài của Hoá châu.


Thời HỒ: sau khi soán ngôi nhà Trần năm1400 Hồ quý Ly chấnchỉnh triều cương xây mới thành Đa bang và cho xay dựng củng cố lại thành Hoá châu tích trữ quân lương tại đây để chuẩn bị đánh Chiêm nối dài con đường thiên lý từ Thanh hoá đến Hoá châu ( quốc lộ 1 A bay giờ) năm 1402 đưa quân đánh Chiêm . Quân Chiêm yếu thế xin hoà giao đất 2 châu Thăng hoa và Tư nghĩa ( Q nam và Q Ngãi bây giờ) . Hồ quyLy giao châu Tư nghĩa cho con của Chế bồng Nga cai quản còn châu Thăng hoa cử quan lính của triều đình vào trấn giữ. Ở Thăng hoa người chiêm bỏ đi gần hết nên nhà Hồ đưa dân ở miền Bắc vào . Nhà Hồ có chính sách rất ưu đãi nhưng cũng rất khắc khe thích chữ nơi đến vào tay để cho họ không trở về . Năm 1407 quân Minh sang đánh Đại ngu ( tên nước ta thời Hồ) Hồ quý Ly và Hồ hán Thương bị bắt giết còn Hồ nguyên Trừng thì quân Minh đưa vế Tàu. Nhân đó quân Chiêm đánh và lấy lại đất 2 châu đó. Quân lính và dân chúng ở Thăng hoa theo Hoàng hối Khanh chạy về thành Hoá châu nhập cư vào các làng ở đây hoặc khai phá lập làng mới.

Thời HẬU TRẦN : Năm 1407 Trần Ngổi khởi binh đánh quân Minh sau kết hợp với Trần quý Khoáng lập nên nhà Hậu Trần chiếm giữ từ Nghệ An đến Hoá châu . Năm 1413 thì bị quân Minh tiêu diệt từ đó nước ta bị quân Minh đô hộ . Trong thời Hậu trần đến lúc quân Minh bị quân Lê Lợi đánh tan (1428) không có sử sách nào nói về việc lập làng lập ấp cả.


Thời LÊ SƠ: Sau khi kháng chiến đánh đuổi quân Minh thắng lợi năm 1428 LÊ LỢI lên ngôi lập nên nhà Lê sơ hiệu là LÊ THÁI TỔ . Hoá châu là miền biên viển của đất nước . Lợi dụng lúc Le thái tổ mất quân Chiêm lại ra cướp phá Hoá châu nên năm 1446 vua Thái Tông thân chinh đánh Chiêm . Quân Đại Việt chiếm Chiêm động tiến đánh cửa Thị nại và bao vây thành Đồ bàn. Vua Chiêm hoảng sợ xin nghị hoà . Vua Thái Tông bắt vua Chiêm lập điều ước sau đó trả đất rút quân . Sau năm 1446 là khoản thời gian thanh bình nên có nhiều làng mới được thành lập chủ yếu ở phía nam thành Hoá châu và ven sông Kim trà ( sông Hương) sông Đan điền ( sông Bồ) . Các làng này đa số do các quan văn võ tướng nghỉ hưu và lính hết hạn về khai phá lập thành . Đến đời vua Thánh Tông quân Chiêm lại đánh úp thanh Hoá Châu nên năm 1471 vua Thánh tông thân chinh đánh Chiêm quân Chiêm đại bại rút chạy về phía nam đèo Cù Mông và từ đó nhà nước Chiêm thành dần dần diệt vong.


Sau năm 1471 là một cuộc di dân lớn nhất trong cuộc nam tiến của nước ta lúc bấy giờ. Nhưng chủ yếu về phía phần đất mới chiếm .Dân di cư ở phía Bắc vào cọng với binh lính ở lại cùng nhau khai phá lập nên làng mạc . Số người Chiêm còn lại vua Lê cho tự chọn họ để làm hộ tịch( đời Hồ thì Hồ quý Ly bắt tất cả người Chiêm ở lại lấy họ ĐINH làm họ). Riêng ở Hoá châu thì vua Lê cho lập 2 khu dinh điền ở Quảng điền và Hương trà khuyến khích dân các làng sở tại đến để khai phá lập nghiệp ( giản dân) . Từ đời Trần đến năm 1471 thì thanh Hoá châu là thủ phủ của trấn Thuận hoá . Thành này là 1 thành củ của chiêm thành trước đây . Hiện nay địa phận của thành là xã Quảng thành Huyện Quảng Điền . Trung tâm thành xưa nay là làng Thành trung . Xưa kia ở làng mình đi vô Huế bằng đò chèo( đò dọc) sau này bằng đò máy để tránh qua cửa Eo (Thuận an) khi gió lớn hoặc mưa lụt thì khi qua khỏi Sịa đối mặt với xã Quảng công có 1 cửa khâu ở đây có một gò đất cao là chỗ làm vọng gác xưa của thành . Đò vô cửa khâu đó rồi đi vô sông đào Kim đôi . Làng Kim đôi nằm ngoài thành Hoá châu dọc theo sông . Đi hết sông Kim đôi ra sông Thành an . Sông Thành an bắt nguồn từ ngã ba Sình chảy từ đầu đến cuối làng Thanh Phước . Nếu rẻ trái thì ra ngã ba Sình rồi theo sông Hương lên Huế còn rẻ phải hết sông này thì gặp sông Tiền thành sông này chảy qua trước mặt thành Hoá châu.


2- Có phải chăng làng KẾ MÔN được thành lập vào các thời điểm sau:


Qua khái quát trên tuy chưa đầy đủ nhưng cho chúng ta nhận định được từng thời điểm của lịch sử để đánh giá đúng hay sai các thời điểm cho rằng làng được thành lập vào lúc đó.

- Năm 1390 :đây là thời điểm mà ông Đặng hữu Hùng đưa ra (trang Làng kế môn) theo ông Hùng căn cứ vào gia phả họ Đặng ( không biết gia phả họ Đặng chính thống hay là họ Đặng gốc Trần hoặc họ Đặng ở làng ) thì làng được thành vào năm này nhưng không dẫn chứng rỏ hoàn cảnh của thời điểm đó. Theo chính sử thi năm 1390 sau khi Chế bồng Nga bị quân nhà Trần giết chết vùng đất Thuận hoá vẫn chưa yên ổn chiến tranh vẫn rình rập bằng chứng năm 1391 Lê quý ly ( chưa đổi họ Hồ ) và Lê Phụng đưa quân vào Hoa chau tuần tiểu biên giới thì bị quân Chiêm phục kích đánh cho tan tác Lê Phụng bị bắt sau trốn về được . Lê quý Ly tức giận ra lệnh chém 30 đại đội phó dưới quyền của Lê Phụng . Với hoàn cảnh như vậy thì hỏi rằng có ai dám đưa gia đình vào vùng đất có nguy cơ chiến tranh để lập nghiệp.


- Năm 1410: Đây là thời điểm mà TS Nguyễn thanh Trung đưa ra trong 1 cuốn sách mang tên : Làng Kế môn: Một làng quê ở Việt nam đẹp và giàu . Theo ông thì làng ra đời trong bối cảnh nam tiến của nước Việt lấy 2 sự kiện đời Lý và Trần với Chiêm thành để minh chứng: .... Mở mang đến đâu thì chiêu mộ dân cư đến đó , đồng thời sử dụng lực lượng hàng binh và tù binh để cùng khai khẩn mở rộng bờ cỏi .... và: những người đầu tiên vào sinh cơ lập nghiệp chủ yếu là khai hoang đến vùng đất này vào khoản đầu thế kỷ 15 (1410). Đây là một thời điểm quá sai lệch với lịch sử vì năm 1410 là năm mà nhà Hậu trần kháng Minh nhưng đang suy yếu : theo chính sử thì:( tóm tắc).


Ngày 02/10/1407 Trần Ngổi con của vua Nghệ tông lên ngôi ở Mô độ lập ra nhà hậu Trần để kháng Minh . Sau khi nghe tin Hoàng hối Khanh đã chết Đặng Tất ( đại tri châu Hoá châu) ra lệnh giết hết quan binh giặc Minh rồi cùng Nguyễn cảnh Chân kéo đại quân ra Bắc hội quân với trần Ngỗi( giản định đế) ở Nghệ an để kháng chiến.Sau trận thắng oanh liệt vào ngày 30/12/1408 ở Bồ cô thì vua tôi nẩy sinh bất hoà vì bất đồng kế hoạch đánh Minh . Tháng 3/1409 nghe lời dèm pha Trần Ngổi giết chết Đặng Tất và Nguyễn cảnh Chân . Con của 2 tướng này là Đặng Tất và Nguyễn cảnh Dị bỏ Ngỗi lập Trần quý khoáng làm vua ( Trùng quang đế) sau đó rước Trần Ngỗi về tôn làm thượng hoàng cùng nhau đánh Minh . Nhà hậu Trần kiểm soát vùng đất từ Nghệ an vào đến Hoá châu nhưng quân Minh quá mạnh nên quân ta dần dần suy yếu ( cũng có nhiều trận quân ta thắng trong đó có lần Đặng Dung nhảy len được thuyền Trương Phụ là tướng chỉ huy quân Minh nhưng không biết mặt Phụ nên Phụ trốn được) . Quân ta bị dồn dần về Hoá châu. Quân Minh bắt và giết chết Trần Ngỗi . Trần quý Khoáng ngự về thành Hoá châu đến năm 1413 thì bị quân Minh tiêu diệt tất cả vua tôi đều bị giết.


Như vậy trong hoàn cảnh đó mà nói rằng: theo tài liệu về gia phả của các tộc họ , cùng theo sự truyền khẩu thì hầu hết các vị thủy tổ của làng Kế môn thuộc gốc từ Thanh hoá , Nghệ an đã vào lập làng năm 1410 thì lịch sử bỏ chỗ nào mà nói được như vậy . Xưa nay 2 từ làng nước đi đôi với nhau nên sử làng luôn song hành với sử nước . Muốn viết sử làng thì phải biết sử nước trước.

- Năm 1446 và năm 1471 : đây là 2 thời điểm mà hầu như tất cả các làng lâu đời ở TT H đều cho làng mình lập vào 1 trong 2 thời điểm đó bởi vì ở 2 thời điểm này có rất nhiều làng được thành lập nhất là sau năm 1471 thời vua Lê thánh Tông. Đa số các làng này đều có sổ sách và di chỉ của tiền nhân để lại rất rỏ ràng. Còn các làng không có hoặc các làng có trước đời Lê đã mất" mạch gốc" thì cứ dưa vào các sách của các vị đời xưa như : Ô châu cận lục của Dương văn An. Phủ biên tạp lục và Vân đài loại ngữ của Lê quý Đôn mà cứ cho rằng : theo ..... thì làng lập vào thời đó thời kia chứ không đưa ra bằng chứng lịch sử cụ thể bởi vì trong các cuốn sách đó đâu có nói chi tiết rằng :làng a lập năm .... đời vua.... mà chỉ chung từng vùng niềm và lấy điển hình 1 hoặc2 địa phương có dấu ấn lịch sử nhất để minh chứng .

- Theo " Đời" trong gia phả: gia phả và mục lục phù ý ( thần phả)các họ ở làng chúng ta đều được làm theo một kiểu . Với cách làm này thì không thể nào để chúng ta tìm ra manh mối gì về nguồn gốc của làng . Hoặc có thể có những cuốn gia phả ghi lại chi tiết nhưng đã mất vì loạn lạc . Cho nên nếu nói : theo giả phả thì làng được thành lập năm này hoặc năm nọ thì không thể chấp nhận được. Nhưng trong một bài viết của một người lấy bút danh là "Thảo dân " đăng trên trang Langkemonsaigon có nói đến một người đã căn cứ vào Đời trong gia phả để làm phép tính tính ra thời điểm là năm 1446 . Theo người đó thì họ có số đời cao nhất trong thời điểm đó là 23 đời mỗi đời cách nhau 25 năm tính ra cọng thêm 25 năm nữa vì cho rằng làng mình sau làng Thanh hương một đời rồi lấy năm mà người đó đưa ra lập luận này để trừ phép tính trên thì trùng vào thời điểm trên tức là vào thời vua Lê thái TôngVới cách tính này thoạt nhìn qua cũng thấy rất khoa học nhưng nghỉ lại thì vô lý vì: -vì sao biết làng Thanh hương có trước 25 nếu vậy thì làng đó thành lập năm nào? Điều này có lẻ lấy từ 4 chữ: thanh nông ưu kế của họ Lê mà ra . Nếu như vậy thì biết đâu khi di cư vào thì con của ngài thủy tổ đã có gia đình không ở chung với ngài mà đi nơi khác để lập làng thì nói hơn 1 đời có đúng không?- chữ " ĐỜI" trong gia phả không có nghĩa là thế hệ mà là mang tính HUYẾT HỆ nhằm xác lập vai vế, tôn ti trật tự của dòng tộc . Cho nên trong thời điểm hiện tại này đang có nhiều đời đang cùng sống chung trong mỗi họ. Có người sắp đi về với ôn mệ nhưng lại ngang hoặc thấp đời hơn người mới sinh thì tính mỗi đời cách nhau 25 năm có đúng không ? Sở dĩ như vậy là do : Một người cha đâu chỉ sinh một người con( trừ cá biệt) và ngày xưa càng đẻ nhiều càng tốt " đông con thì nhiều của" chính vì vậy mà:dâu đẻ mụ gia cũng đẻ. Cháu bú mệ em chong bú chị dâu.Lại thêm chế độ đa thê các vị làm quan hoặc người có của thi nhau nạp thê nạp thiếp " đầu xâu 2 vợ huống chi tui đây ôn trùm" thậm chí có người trên 80 tuổi mà còn à... ơi không chừng" ôn nội chú mà bú cháu dâu" Cho nên lấy chữ "Đời" trong họ mà mà tính ra gốc của làng thì không . Đồng thời họ có nhiều đời chưa phải là họ vô trước và cùng 1 họ thì họ làng này hơn đời họ làng kia thì chưa phải làng này có trước làng kia.


3- Vậy làng KẾ MÔN có từ thời nào?

Đây là một câu hỏi mà muốn trả lời thì phải " nói có sách mách có chứng" nhưng sách thì đã mất chỉ còn chứng . Cái " Chứng" ở đây chính là dòng sử Dân gian. Vậy mời quý vị cùng tôi phân tích dòng sử đó của làng để trả lời câu hỏi này qua những vấn đề sau:


a- TỊNH BÀ CHI MỘ : Đây là 4 chữ cuối trong văn bia mộ ngài thủy tổ và các ngài cao tổ khoản đến đời thứ 6 của các họ không chỉ có ở làng mình mà có ở nhiều làng khác kể cả ngoài Quảng trị . Bấy lâu nay chúng ta cứ hỏi mộ các bà ở đâu và cứ nghỉ rằng đã thất lạc do thời gian cho nên trên mộ ông mới đề 2 chữ Tịnh bà . Nhưng theo chữ Hán : thì chữ Tịnh này có nghĩa là: gồm, hợp lại, nhập lại, gộp lại, đặt kề nhau, cùng nhau, đều, ngang nhau, hợp làm một, chung nhau.như vậy 2 chữ tịnh bà cho chúng ta hiểu rằng ông và bà cùng chung một mộ .Đây là tục lệ hợp táng của xưa kia xuất phát từ quan niệm : " sống chung nhà thác chung mồ" cho nên sau khi chết thì vợ chồng chung nhau một nấm mồ. Từ tục lệ này chúng ta có thể lý giải được câu chuyện của họ Hoàng Ngọc ở làng ngày xưa qua bốc mộ của ngài Thuỷ tổ ở làng Cao ban về :

- Nếu mộ ông và bà táng riêng thì không thể nào có việc cả 2 làng bây giờ đều không biết mộ thủy tổ của làng mình là ông hay bà.Bởi lẻ khi bốc lên chắc chắn rằng phải làm dấu tích để phân biệt- Bởi ông và bà hợp táng đã trãi qua thời gian đã lâu cho nên khi bốc thì đã không phân biệt được ông hay bà ngay từ ban đầu . Vì nếu phân biệt được từ ban đầu thì cũng không thể xãy ra việc đó vì việc bốc mộ là việc rất quan trọng và nhiều người làm .Tục " Hợp táng " này chỉ có trước thời Lê sơ bởi vì chúng ta biết rằng thời Lê sơ lấy Nho giáo làm nền tảng chính trị . Các tục lệ đều do các nhà Nho gia đặt ra. Trong tục lệ mai táng rất kiêng cử việc chôn gần nhau do sơ hư mạch mộ .Việc lấy huyệt mộ để chôn rất kỷ càng . Phải có thầy địa lý xem đất rồi nhắm hướng tốt và rất nhiều vấn đề kiêng cử khác . Tất cả đều do quan niệm : " không có mã đố ả làm nên" mà ra.


- GIẶC MƯỜNG: Đây là 2 từ mà trong cuộc sống thường ngày chung ta những lớp người nhiều tuổi hay dùng trong các trường hợp: xô xát ồn ào ,đùa giỡn huyên náo ,la rầy mắng mỏ v. v (cũng có rất nhiều nơi ở TTH và Q trị dùng2 từ này ) nhưng vì sao có 2 từ này: trong cuộc hôn nhân của Chế Mân và Trần huyền Trân thì trong dân gian có câu : Tiếc thay cây quế giữa rừng. Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo . Như vậy giặc Mường chính là giặc Chiêm thành . Theo lịch sử thì vào thời chiến tranh giữa nhà Trần (ĐV) và Chiêm thành thì quân Chiêm luôn đến cướp phá các làng ở Thuận hoá nhất là khoản thời gian của Chế bồng Nga vùng Tân bình và Thuận hoá bị quân Chiêm chiếm đóng 12 năm liền . Tương truyền mỗi lần quân Chiêm cướp phá ở đâu thì ở đó : lửa cháy rực trời , cảnh xô xát la ó khóc than huyen náo cả vùng . Cảnh tương này không chỉ xảy ra một lần cho nên dân chúng thời đó luôn nơn nớp lo sợ dần dần ăn sâu vào tiềm thức cho đến thời bình gặp phải những cảnh tượng na ná như vậy mà lấy cái từ " Giặc Mường " để ví von ám chỉ và truyền mãi cho đến ngày nay. Đó là "Có tích mới dịch nên tuồng" vậy.


- Người khởi xướng đặt tên "Kế môn " cho làng:" ngày xửa ngày xưa vào thời giặc Tàu qua đánh nước ta có vị quan văn được 2 người lính họ Hoàng của làng đưa về làng để trốn giặc......" Đó là câu chuyện truyền khẩu bí mật thời xưa của làng. Nếu không bí mật thì e rằng không có những người dân Kế môn chúng ta hôm nay. Chính vì vậy mà rất ít người biết đến mà biết chăng cũng lờ mờ mà thôi. Nhưng mắn thay bí mật rồi cũng bật mí qua sự tình cờ mà có. Đó là nhờ cụ Hoàng Ngọc Hiến người họ Hoàng làng Hiền Lương xưa là 1 nhân viên của cụ Hồ tá Khanh người làng mình làm bộ trưởng kinh tể của chính phủ Trần trọng Kim và một người không ngờ tới đó là chú HỒ THIẾT ở đội 4 kể cho tôi nghe trong dịp tu bổ đập Khe làng (đồng dạ) vào cái năm tôi được cầm cuốc . Từ lời kể của hai người đó mà tôi tìm ra được người quan văn đó qua việc đối chứng với lịch sử. Người đó là ngài : HOÀNG HỐI KHANH ( chứ không phải là Khối Khanh như câu chuyện mà ông Nguyễn thanh Trung viết) tất cả câu chuyện này sẻ có ở phần 2 của bài viết. Ngài Hoàng hối Khanh về trốn giặc ở làng mình năm 1407 và cũng mất vào năm đó cung với 8 người đi theo ông ở cửa Hội Nghệ an.


- Mã vôi : thời trước làng mình có 3 ngôi mộ được xây bằng vôi . 1 ngôi ở khe ôn Yên xóm cây vông 1 ngôi ở trên đường cấy giữa xóm cụt và xóm khe Phụ 1 ngôi ở sau Bàu Môn . Nhưng vào đầu năm 1980 đã bị " khảo cổ" để chống thiếu đói. Vì xây bằng vôi nên thường gọi là mã vôi nhưng cũng gọi là mã Tàu vì tương truyền đây là 3 ngôi mộ của người Tàu 1 ngôi là vị thầy thuốc còn 2 ngôi là của lính Tàu . Như vậy trước đây làng chúng ta đã có người Tàu đến ở đây . Vậy họ đến vào thời điểm nào ? Điểm lại sử nước thì chắc chắn rằng vào lúc quân Minh tiêu diệt nhà Hậu Trần năm 1413 ở Hoá châu đặt nền thống trị toàn bộ nước ta cho đến năm 1425 nghĩa quân Lam sơn của Lê Lợi do Trần nguyên Đán chỉ huy tiến đánh Thuận hoá.


- Câu chuyện tìm họ và nhận họ của họ TRẦN DUY : " Huyết sảo,tảo thương ,vong biên thất ký ,hữu danh vô vị ,hữu vị vô danh ,tha phương lạc quán bất tường" đây là một câu trong bài văn tế lể của các họ trong dịp họ làm lể cúng tổ tiên mà chúng ta ai cũng từng được nghe khi về họ và cũng hiểu được ý nghĩa của câu văn này . Chính vì cái ý: tha phương lạc quán bất tường mà cố tôi là ông Trần duy Tụng( xạ Tụng) và ông Trần duy Tú ( Tú cải) được sự tài trợ của một người trong họ làm quan ở triều đình lúc sinh thời hai ông đã khăn gói lên đường ròng rả 3 tháng đi khắp lục huyện của phủ Thừa thiên tìm các họ Trần trong phủ để xin đối chiếu gia phả những mong tìm ra những người con của họ đã ra đi trong quá khứ không trở về với họ với làng nay đã lập làng lập họ ở nơi đâu va cuối cùng như cố tôi nói : "có đó nhưng người ta không chịu nhận " Sau khi cố tôi mất thì tất cả thuộc về quá khứ. Nhưng đến năm 2000 trước lúc họ tổ chức việc tiếu khoản nữa tháng thì có thông tin có họ Trần duy ở Diêu trì thành phố Quy Nhơn về nhận họ . Thật là quá bất ngờ trong họ xôn xao bàn tán " chắc là một gia đình mô đó đi đã lâu nay đưa con cái cháu chắc về họ chứ mần chi có họ mình ở tron nớ" thế rồi những người trong đó đã về mà về cả họ thật .Qua trình bày của người đại diện thì ngài đầu họ là một trong các vị khai canh của làng Diêu Trì . Ngài là con trai thứ3 của ngài Trần duy Diệt(Việt) người làng Kế môn . Ngài Việt tham gia nghĩa quân Lam Sơn đánh giặc Minh sau khi Lê Lợi đuổi được quân Minh thì ngài không về làng. Sau năm 1446 ngài cùng các vị quan văn võ tướng ở Hoá châu về lập ra làng Ôn tuyền . Ngài ở Diêu trì sinh ra và lớn lên ở làng Ôn Tuyền vào năm 1471 theo đoàn quân của Hoá châu vào đánh quân Chiêm trong cuộc đánh chiêm của vua Lê thánh Tống.sau khi đánh thắng quân Chiêm ngài không ve quê mà ở lại trong đó lập gia đình và cùng các người khác lập ra làng Diêu Trì ở TP Quy Nhơn bây giờ .


Tìm trong gia phả thì ngài Việt là người đầu đời thứ 7 . Còn làng Ôn tuyền thì không biết ở đâu . Tuy vậy 2 thông tin là người gốc làng và có trong gia phả cũng đủ chứng minh ngài Việt là con của họ và ứng với cau chuyện mà ông Nguyễn thanh Chỉ ( viên chỉ) đã kể rằng: ngày xưa khi quân của Lê lợi vào đánh quan Minh ở Hoá châu thì làng mình có 3 người là anh em cô cậu ruột rất giỏi võ nghệ 1 người họ Trần 1 người họ Lê và 1 người họ Nguyễn đã theo nghĩa quân đánh giặc nhưng sau đó thì không về làng nữa. Như vậy ngài Việt chính là người họ Trần đó. Cũng trong ngày đó thì ông Trần duy Cuộc cùng 1 người ở Diêu trì về và tôi ngồi nói chuyện với nhau thì ông Cuộc nói rằng: lúc trước(75) tui đi khắp Huế mình nhưng chưa nghe làng mô có tên Ôn tuyền cả chỉ nghe có làng Thanh tuyền nhưng sau ni đổi thành làng Thanh toàn là làng có cây cầu ngói đó. Hồi xưa ôn tui nói cố chú( chỉ tôi) có nói tron nớ có họ mình nhưng khôn chịu nhận là gốc ở họ mình. Qua Thông tin đó mà sau này họ Diêu trì đã tìm ra nơi mà ngài đầu họ đã sinh ra và lớn lên vì làng ôn tuyền là tên khi mới lập làng sau đó đổi thành Thanh tuyền đến đời vua Thiệu trị phải đổi thành Thanh Toàn vì do trùng tên với vua( Nguyễn phúc Tuyền ) cây cầu ngói Thanh toàn do bà Trần thị Đạo (cả) bỏ tiền xây để cầu tự vào năm 1776 cũng là người họ Trần duy ở đó Sau lại đổi thành làng Thanh Thuỷ thuộc xã Thuỷ thanh thị xã Hương thuỷ bây giờ. Và rồi cái họ cách đây gan 100 nam về trước không chịu nhận đã chủ động tìm về với cội nguồn( hiện nay các họ đã có giao ước với nhau.năm ngoái tôi về Chạp mộ họ có gặp họ " Ôn tuyền" về dự .khác với làng mình bác trưởng họ là do dân họ bầu theo nhiệm kỳ) Tước của ngài thời Lê là: KHÁNH DỤ HẦU đến đời vua Duy Tân phong thêm: DỰC BẢO TRUNG HƯNG LINH PHÒ CHI THẦN. Qua dòng lịch sử dân gian trên đã khẳng định một điều duy nhất đúng là: Làng KẾ MÔN chúng ta có từ: THỜI NHÀ TRẦN


4- Niên đại thành lập làng :

Tuy đã xác định được thời điểm nhưng việc xác định được niên đại khó mà chính xác được có thể chỉ mang tính chất tương đối mà thôi. Tuy vậy nhưng cũng phải đưa ra những sự kiện mang tính lịch sử để minh chứng - trong thời điểm từ khi tiếp nhận từ Chiêm thành đến hết đời nhà Trần thì có 3 thời kỳ: -Từ 1311đến 1341 : đây là thời kỳ mà nhà Trần còn mạnh về mọi mặt khống chế và tham dự vào triều chính của Chiêm thành cho nên việc di dân được dân hưởng ứng nhất là sau sự kiện năm 1311. Năm 1312 vua ra chiếu khuyến khích đi dân thì năm1313 đã có nhiều thôn làng được công nhận về mặt hành chính. -Từ năm 1341 đến 1393: đây là thời kỳ suy thoái của nhà Trần kể từ khi vua Dụ tông len ngôi sau đó là loạn Dương nhật Lễ thì chiến tranh Việt Chiêm càng ngày càng ác liệt thế mạnh thuộc về quan Chiêm . Thời kỳ này dân tình điêu đứng vì chiến tranh nên việc di dân lập làng không thể xảy ra.

Từ năm 1393 đến cuối đời nhà Trần : đây là giai đoạn tái lập làng xã sau chiến tranh nên cũng có thể có số ít làng mới được thành lập. Đó là nói về lịch sử của nước nhà đem đối chứng với sử dân gian để xác định niên đại thành lập làng không mang tính gán ép miễn cưởng.

Năm 1424 theo kế hoạch của Nguyễn Chích Lê Lợi đưa quân tiến đánh Thanh hoá. Nghĩa quân trong thời gian ngắn đã chiếm được vùng đất từ Thanh hoá đến Nghệ an . Năm 1425 Lê Lợi sai Trần nguyên Đán chỉ huy tướng sĩ tiến đánh Tân bình và Thuận hoá. Đoàn quân của Nguyên Hản tiến tới đâu thì thanh niên trai tráng hưởng ứng tòng quân đuổi giặc đến đó trong đó có ngài Trần duy Việt và những người khác của làng chúng ta. Như vậy năm đó chí ít thì ngài Việt cũng đã 18 tuổi như vậy ngài có thể sinh vào năm 1407 .Từ năm 1407 trở lui về thời điểm di dân lớn nhất thì khoản cách chừng 95 năm. Ngài Việt là người đầu đời thứ 7 của họ Trần duy . Với khoản thời gian 95 năm để phát triển 7 đời huyết hệ của dòng họ trong thời điểm ban đầu là một con số tương đối có thể chấp nhận được. Vì vậy nói làng chúng ta được thành lập vào: NĂM 1313 ĐỜI VUA TRẦN ANH TÔNG NIÊN HIỆU HƯNG LONG NĂM THỨ 20 là hợp lý nhất.

( hết phần một)
*TRẦN DUY HUẤN

 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 7
Tổng truy cập: 604.417