Thông báo

29/012018

Tham luận về nguồn cội (bài 3 - p.2)

Ý KIẾN CỦA TÁC GIẢ TRẦN DUY HUẤN:

PHẦN HAI: GIẢI MÃ TÊN LÀNG

Tất cả mọi sự vật mọi hiện tượng trong thế giới hữu hình lẩn vô hình đều có một cái tên. Cái tên là do con người đặt ra nhưng cái tên không chỉ là dùng để gọi để phân biệt mà cái tên còn hàm chứa cả nguồn gốc và ý nghĩa của sự vật hay hiện tượng đó. Điều này thể hiện rỏ nhất trong hai cái tên mà chúng ta luôn trân trọng và yêu quý đó là tên nước và tên làng.Tên nước cũng như tên làng có thể thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử . Nhưng tên nước thì có sử nước ghi chép rỏ ràng qua từng triều đại từng thể chế vì sử nước là mạch liền của dân tộc nên lúc nào cũng có hệ thống chuyên trách làm sử nước. Còn tên làng tuy làng cũng có sử làng nhưng sử làng thì chủ yếu là truyền khẩu có rất ít làng còn có di chỉ trên gia phả của các họ . Vì vậy mà bị mai một theo thời gian cho nên muốn tìm lại gốc tích của tên làng quả là điều rất khó trong số đó có làng của chúng ta .Tuy là rất khó nhưng vẫn còn đâu đó những câu chuyện đời xưa mà các bậc tiền bối của làng kể lại kết hợp với những chứng tích còn lại ở làng và tìm hiểu ở chính sử để đối chứng thì có thể lần tìm ra lịch sử tên làng của chúng ta

A- TÊN KHAI SINH CỦA LÀNG
Các cấp hành chính cơ sở xưa kia gọi là : Chiền, Chạ , Kẻ . Vì thời xưa nước ta chưa có chữ viết phải dùng chữ Hán nên ngoài tên Nôm ra còn có thêm tên chữ Hán để dùng trong mặt hành chính . Các noi do một dòng họ khai lập thì thường lấy họ thêm chữ xá để làm tên . Dưới thời Lý và Trần tuy chữ Nôm đã có nhưng vẫn dùng hai tên song hành với nhau đây là quy định bắt buộc.Làng chúng ta được thành lập ở đời nhà Trần vì vậy cũng có hai tên một Nôm một Hán như các nơi khác. Theo truyền khẩu thì tên Nôm là: KẺ VẠY và tên Hán là :HOA LĂNG thuộc Huyện Bồ Đài xứ Thuận Hoá.
- KẺ VẠY: là tên được đặt theo đặc điểm của làng . Đặc điểm đó là do con rào chảy qua trước làng có một khúc chảy vạy vô cánh đồng của làng tạo thành một đoạn sông bên bồi bên lở rộng và rất sâu gọi là Khút. Chính là khút bàu ngược của sông Ô lâu hiện nay
- HOA LĂNG: là tên chữ Hán theo nghĩa của hai chữ Hán này thì cái tên này lấy từ cảnh quan của làng
- HOA: chữ Hán: 崋 có nghĩa là : Đẹp
- LĂNG: chữ Hán: 棱 có nghĩa là: oai linh, oai nghiêm
HOA LĂNG: Đẹp và oai nghiêm hoặc oai linh và đẹp đẻ

Năm 2007 tôi về Nha trang dự đám cưới con gái của anh Phan Hùng( con bác Phan Thại ở xóm Đề) anh Hùng đưa tôi đến thăm bác Hoàng Luân . Tôi và bác trao đổi nhau về cái tên xưa của làng khi nói về hai chữ Hoa lăng thì bác nói: " theo tui biết thì làng mình là Hoa lăng hạ . Như rứa thí có thể ba làng Thanh hương, Vĩnh xương và Kế môn ngày nay cùng khai lập một thời. Nhưng mà"hữu thuyết vô bằng" tui nói chú mi nghe cho biết rứa thôi"
Thật vậy nhưng dẫu sao là: " không có lửa làm sao có khói" hai chữ : KẺ VẠY thì còn một di chỉ để chúng ta suy gầm đó là tấm bản đồ giải thửa do Pháp làm năm 1936 do ông Bùi Giây phải lao tâm khổ tứ mới xin được từ kho lưu trữ của ty điền địa ngày xưa vào năm 1979 . Trên tấm bản đồ này : đường cấy là thượng khúc vạy,đường ngang là trung khúc vạy và đường quan là hạ khúc vạy
Còn hai chữ HOA LĂNG thì chẳng có manh mối nào. Mong sao có ai đó biết được điều gì đó có liên quan đến hai chữ này để minh chứng cho cái tên khai sinh của làng

B- LÀNG CÓ TÊN: KẾ MÔN VÀO THỜI ĐIỂM NÀO ?
Năm 1413 sau khi cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc Minh của nhà hậu Trần thất bại . Quân Minh chiếm trọn lảnh thổ nước ta. Chúng bắt đầu dùng chính sách đồng hoá hòng xoá sổ dân tộc Việt. Chúng cai trị dân ta rất tàn bạo " Nướng dân đen trong lò bạo ngược. Đày con đỏ dưới hố tai ương" . Tất cả những gì mà tổ tiên chúng ta để lại chúng đều đốt sạch phá sạch. Cái gì liên quan đến Nôm là chúng cấm trong đó có chữ Nôm . Sách vở bằng chữ Nôm chúng tịch thu thiêu hủy và buộc thay đổi tên làng bằng chữ Hán .Cho nên vào thời điểm đó nhiều nơi đã phải đổi tên làng theo quy định của giặc Minh và làng chúng ta cũng là một trong số đó . Từ đó hai chữ KẾ MÔN đã trở thành tên của làng cho đến ngày nay.
Một câu hỏi được đặt ra là : Tại sao tổ tiên chúng ta không giữ lại tên củ mà lại thay đổi tên mới KẾ MÔN vì hai chữ HOA LĂNG không vi phạm điều cấm kỵ gì của giặc Minh?
Đây là câu hỏi mà trả lời được tức là đã giải mã được toàn bộ nguồn gốc và ý nghĩa của hai chữ KẾ MÔN

C -NGƯỜI KHỞI XƯỚNG HAI CHỮ : KẾ MÔN
Năm 1976 họ tôi làm lại gia phả . Sau khi ôn Xạ Chua làm xong bằng chữ Hán họ phân công tôi viết chữ Việt bên cạnh . Khi làm thấy các đời đầu trong gia phả số người không sinh hạ rất nhiều nên tôi hỏi ôn thì ôn đã giải thích như sau :
- người vô tự ( không có con trai) hoặc chưa lập gia thất mà chết thì ở dưới có khuyên đỏ( vòng tròn đỏ)
- người chết lúc còn nhỏ thì cước hai chữ "tảo vong"
- còn người không ghi chú gì hết là người rời làng đi nơi khác làm ăn không có liên lạc gì với họ và người ngày xưa đi lính đánh giặc không biết sống chết ra sao đây là số nhiều nhất trong những người không sinh hạ cho nên trong văn sớ có câu: " vong biên thất ký" câu này chỉ các người chết trận giờ không biết mồ mã ở đâu .
Sau đó ôn kể cho tôi nghe câu chuyện " vong biên thất ký" của các ngài đời xưa của làng . Câu chuyện này về sau tôi cũng được nghe ôn Viên chỉ,ôn Biện Chước, bác Hoàng Luân, bác Trần duy Cường kể lại cùng một nội dung như ôn Xạ Chua đã kể : " ngày xưa lúc giặc Tàu qua đánh nước mình . Lúc đó có một vị quan văn được hai người họ Hoàng làng mình đưa về trốn giặc ở làng sau đó vị quan này cùng tám người làng mình chết ở cửa biển Nghệ an " trong câu chuyện này thì duy nhất có ôn Viên chỉ nói : " vị quan ni là người đặt tên cho làng mình là KẾ MÔN đó"
Từ xưa đến giờ năm nào gần đến mùa lụt bảo là làng cũng tổ chức tu bổ bờ đập Đồng dạ "ăn cơm đèn, nghe đồng xèn, tập trung tại lò rèn để mần việc quan" . Vào năm 2003 tôi ở đội1 . Năm đó tôi thuộc diện cầm cuốc (45t) và đội tôi làm gần đội 4. Lúc giải lao buổi sáng tôi và anh Hoàng Khanh ( em anh Phán) đang ngồi nói chuyện với nhau thì xảy ta một cuộc tranh cải giữa anh Nguyễn Kha với anh Nguyễn Trai và anh Hoàng Sơn về đất trồng khoai sắn ở Truông Tàu và khe Mẻ tré. Chờ cuộc tranh cải lắng dịu tôi hỏi:" có ai biết vì răng mà kêu là truông Tàu khôn?" Anh Khanh đứng dậy nói rằng: "chắc hồi xưa tàu bay ra thả bom bà con mình chạy vô núp ở đó nên gọi là truông Tàu" nói xong anh bỏ đi tôi không kịp tranh luận gì . Lúc đó chú Hồ Thiết đứng đối diện với tôi chú nhìn tôi cười và nói(chú đội cái nón mới mua quai nón bằng dây chuối) : " tui nghe ôn nội tui kể lại đời sệt đời sờ truyền lại thì xưa kia lúc giặc Tàu qua đánh nước mình thì có hai người họ Hoàng làng mình dẫn một vị quan về trốn giặc ở đây . Ở đó là nơi mần và thu chiếc thuyền . Chiếc thuyền mần là để cho ôn quan đó đi ra Bắc . Để giữ bí mật nên những người làng mình sáng phải giả mần người đi chặt củi chiều về mỗi người cũng sương một triêng củi về . Thuyền mần xong đưa ra biển ôn quan nớ với 8 người làng mình ra đi . Nhưng ra tới biển Nghệ an gặp biển động nên bị lật thuyền mà chết . Do rứa mà truông đó mới kêu là truông Tàu . Ôn tui còn nói cấy ôn quan nớ là người nói dân làng mình lấy hai chữ Kế môn mần tên làng "
Từ những lời kể về " ôn quan trốn ở làng mình và chết ở cửa biển Nghệ an " đó mà cuối năm 2009 khi về làng tôi đến thăm người chị bạn dì ruột ở Huế . Chị là giáo viên môn sử trường PTTH Nguyễn Huệ ( lúc này chị là hiệu trưởng trường đó) cho nên chị có rất nhiều sách sử xưa có nay có . Lúc đến thì chị đi vắng dặn tôi chờ chị về . Trong lúc chờ tôi lấy cuốn " Đại Việt sử ký toàn thư" viết về thời Trần và Hồ để đọc . Khi đọc đến đoạn nói về tình thế của vùng Thuận Quảng lúc quân Minh xâm lược nước Đại Ngu năm 1407 tôi lặng người đi một chặp rồi la lên "A! đây rồi"
Thì ra vị quan văn về trốn giặc Minh ở làng và chết tại cửa biển Nghệ an như trong câu chuyện truyền khẩu chính là ngài HOÀNG HỐI KHANH một trọng thần đời nhà Hồ.

TIỂU SỬ NGÀI: HOÀNG HỐI KHANH
Ngài sinh năm : 1362 nguyên quán thôn Bái trại xã Định tăng huyện Yên định tỉnh Thanh hoá ngày nay. Đổ thái học sinh năm giáp tý( 1384) thời vua Trần Phế Đế niên hiệu Xương phù thứ 8 được cử làm thủ sứ cung Bảo hoà. Năm 1385 vua Trần phế Đế cử vào làm tri huyện của huyện Nha Nghi nay là huyện Lệ thuỷ tỉnh Quảng Bình.Sau khi ổn định cơ sở hành chính . năm 1387 ngài đã chiêu mộ dân chúng vùng Hoan châu và Ái châu vào đây khai phá lập làng lập ấp tổ chức thành điền trang gọi là điền trang Hoàng hối Khanh . Điền trang này bắt đầu hình thành từ Kẻ tiểu ( Thượng phong) sau đó mở rộng ra thêm nhiều kẻ và nhà ( kẻ: làm nông nhà: tiểu thủ công) như: kẻ Đợi( Đại phong) kẻ Tuy ( Tuy lộc) kẻ thá (an xá) kẻ soi( xuân hồi) kẻ tréo( cổ liễu) kẻ chèn ( quãng cư) kẻ théc( thạch bàn) kẻ trìa ( tân lệ) vv. Nhà mòi( mai hạ) nhà phan( phan xá) nhà vàng ( hoàng Giang) nhà ngo ( uẩn áo) nhà cai ( mai xá) vv. Ngài là đệ nhất tiền khai khẩn vùng đất Lệ thuỷ ngày nay. Ngài thực hiện chủ trương xoá bỏ nông nô cho nên tất cả người dân vào lập nghiệp ở đây đều được cấp ruộng đất để làm ăn sinh sống .
Lúc bấy giờ nhà Trần đã suy yếu quyền hành ở trong tay Hồ quý Ly . Nhờ có công tố giác âm mưu giết Hồ quý Ly nên ông và Đặng Tất được Quý Ly trọng dụng từ đó(8/1391) ông được phong làm chính hình đại phu và Đăng Tất làm châu phán.
Năm 1400 Hồ quý Ly soán ngôi nhà Trần lập nên nhà Hồ lấy quốc hiệu là ĐẠI NGU . Năm1404 để tăng cường quản lý nhân khẩu cho việc tuyển quân ngài đã dâng lên vua Hồ kế sách kê khai nhân khẩu từ 12 tuổi trở lên. Năm 1405 viện cớ đất Lộc châu là đất củ của châu Tư minh vua Minh là Minh thành tổ bắt nhà Hồ trả đất . Vua Hồ phải nhượng bộ phong ngài làm sung cát địa sứ để trả đất . Ngài đem 59 làng ở đó trả cho Minh triều. Vua Hồ có ý không bằng lòng nhưng ngài đã giải bày tình hình sự việc nén vua Hồ nguôi giận. Sau đó Hồ quý Ly cho người đầu độc tất cả các thổ quan mà nhà Minh mới phong ở vùng đất mới cướp được chết sạch. Tháng 9 năm 1405 vua Hồ giao cho ngài đốc suất đắp thành Đa bang (huyện Ba vì Hà tây ngày nay)để phòng chống âm mưu xâm lược nhà Minh.vì nhà Hồ chưa ổn định nên quân Chiêm hay quấy rối ở biên giới phía nam với sự quan trọng và chiến lược của vùng Thuận Quảng nên năm 1406 vua Hồ sai ngài vô nam làm tuyên uý trấn sứ cả vùng Thăng Hoa ( quảng nam ) ngài chọn các tướng Đặng Tất, Phạm thế Căng, Nguyễn Lỗ giúp việc cho ngài .Lúc này nhà Minh lấy cớ phù Trần diệt Hồ đem sang xâm lược. Quân Hồ thua trận rút về cố thủ ở thành Đa bang . Hồ quý Ly sai người đưa mật thư cho ngài sai lấy một phần ba dân chúng mới đến khai phá vùng đất mà nhà Hồ chiếm được của chiêm thành năm 1402 cọng với quân lính ở Thăng hoa giao cho Nguyễn Lỗ ra cứu giá. Nhưng ngài giấu đi sự việc này ( theo đại Việt sử ký toàn thư thì khi ngài vào Thăng hoa ngài có lập hội thề với dân các làng ở đây . Không biết ngài thề gì với dân nhưng chỉ có Đặng Tất theo ngài còn Nguyễn Lỗ thì không và cho rằng ngài và Đặng Tất có ý phản Hồ ) và không giao quân cho Nguyễn Lỗ. Tháng 6 năm 1407 thành Đa bang thất thủ cha con vua Hồ bị quân minh bắt. Quân Minh giết Hồ quý Ly và Hồ hán Thương còn Hồ nguyên Trừng thì đưa về Tàu . Quân Chiêm nhân đó đem quân chiếm lại vùng Tư nghĩa và Thăng Hoa . Dân chúng theo ngài rút về Hoá châu. Ngài sai Đặng Tất đi đường thuỷ. rút về trước. Nguyễn Lỗ đi đường bộ rút về sau còn ngài cùng dân chúng rút về sau cùng.khi về tới Hoá châu thì Nguyễn Phong là trấn phủ sứ Thuận Hoá cùng phe với Lỗ không cho Đặng Tất vào thành . Đặng Tất đánh thành giết Phong rồi giao tranh với Lỗ hơn một tháng Lỗ thua chạy qua hàng quân Chiêm. Ngài Hoàng hối Khanh lúc này đang ở ngoài thanh Hoá châu ra lệnh giết hết cả nhà Nguyễn Lỗ . Cũng trong lúc này quân Minh đưa quân vào đánh Hoá châu . Trương Phụ tướng cầm đầu sai Đổ tử Trung đến dụ Đặng Tất và Hoàng hối Khanh đầu hàng. Lúc đó ngài Khanh chưa nhập thành và đã bỏ trốn còn Đặng Tất trước sức ép từ hai mặt nên đã trá hàng để có điều kiện đánh quân Chiêm ở phía nam. Trương phụ phong Đặng Tất làm Đại tri Hoá châu và ra lệnh truy nã ngài Khanh để bắt cho bằng được vì theo quaan Minh ngài là người nguy hiểm nhất trong việc thôn tính nước ta của chúng ( lúc này ngài Nguyễn Trãi cũng bị chúng bắt và giam lỏng ở Đông quan . Ngài Nguyễn Trãi nhỏ thua ngai Khanh 20 tuổi) còn Phạm thế Căng cũng đầu hàng trước đó sau này ngài Đặng Tất khi đưa quân ra Nghệ an theo Trần Ngổi đã bắt giết Căng. Nguyễn Lỗ đầu hàng Chiêm thành sau đó quân Minh lập mưu nói sẻ phong chức tước cho Lỗ . Lỗ nghe lời và bị quân Minh giết.Đó là kết quả của những người phản dân hại nước. Còn ngài Hoàng hối Khanh sau thời gian ẩn trốn ngài đã theo đường biển ra Bắc nhưng đến cửa Hội gặp sóng to gió lớn thuyền bị lật ngài bị thổ binh theo quân Minh bắt . Không muốn bị rơi vào tay giặc nên ngài đã tự vẩn chúng cắt đầu ngài nộp cho Trương Phụ. Phụ đem đầu ngài treo giữa chợ Đông đô để răn de dan chúng nước Nam. Còn những người theo ngài thì bị thổ binh ở đó giết sạch
Nói về cái chết của ngài Khanh thì theo tất cả các sử củ đều chép rằng: sau khi ra lệnh giết cả nhà Nguyễn Lỗ thì hành trạng của ngài không ai được chỉ biết ngài tự vẩn cho tròn tiết nghĩa vơi đất nước vào tháng 7 năm 1407 lúc ngài mới 46 tuổi .Thế nhưng sau năm 1975 lại co người cho rằng ngài bị ngài Đặng Dung bắt nộp cho quân Minh khi đưa ngài về Bắc để nộp cho Trương Phụ đến sông Đan Thai thì ngài tự vẩn ( sách" lần theo trang sử Thuận Quảng " của nhà xuất bản Đà nằng phát hành năm 2004) . Điều này quả là đáng phải phê phán vì chúng ta nếu ai đã từng học lịch sử nước ta thì ắt hẳn biết ro lòng yêu nước của cha con ngài ĐẶNG TẤT như thế nào. Một danh tướng mà ai cũng tôn kính ngưỡng mộ thế mà cũng dám viết thành sách là: căn cứ vào sử sách mà sử sách của ai vậy? Đúng là những câu chuyện sử sách " mèo đẻ ra trứng" mà chúng ta đã từng đọc. Nhưng nhìn chung qua tất cả các sách sử củ thì mỗi sách nói mỗi khác rồi người dựa theo đó lại đưa ra mỗi người mỗi ý khác nhau xung quanh cái chết của ngài bởi lẻ do không ai biết khoản thời gian mà ngài bỏ trốn thì ngài về trốn ở đâu. Điều này chỉ có những người cùng chung chí hướng với ngài ở KẺ VẠY ngày xưa nay là làng KẾ MÔN mới biết mà thôi. Ngài là một vị quan văn cũng là một vị tướng rất có tài và có công rất lớn đối với cả hai triều Trần và Hồ. Ngài vừa là chính trị gia vừa là nhà kinh tế lồi lạc thời bấy giờ. Hiện nay đền thờ ngài ở làng Thượng Phong. Tước của ngài là : Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân tặng kiệt tiết linh thông Hoàng quận công tước phong dực bảo trung Hưng gia tặng đoan túc linh phò tôn thần

D- DỊCH NGHĨA HAI CHỮ:薊 門 KẾ MÔN
Việc dịch nghĩa hai chữ : 葪 門 "KẾ MÔN"là điều lâu nay chúng ta rất muốn biết bởi vì đây chính là " LINH HỒN" của làng chúng ta.
Trong lịch sử Việt nam chúng ta có ba loại chữ viết để ghi chép tiếng Việt đó là: chữ Hán,chữ Nôm (chữ quốc ngữ đầu tiên) và chữ quốc ngữ hiện nay. Do chữ Hán và chữ Nôm đều là chữ tượng hình cho nên khi muốn giải thích một chữ tượng hình nào đó thì trước hết phải xác định chữ đó là Hán hay Nôm .
Cuối năm 1975 làng mời các vị biết chữ Hán và các bác lão nông tri điền ra làng để làm lại sổ bộ của làng.Tôi và anh Phan Trường anh Nguyễn văn Đông là thư ký trong công việc đó. Ngay từ buổi đầu tiên chúng tôi đã hỏi ôn Xạ Chua về nghĩa của hai chữ Kế môn. Nhưng ôn trả lời : " các cháu muốn biết thì phải học chữ Hán đã vì ôn có nói thì bây cũng khôn biết hết mô" sau này tôi vô Đalat bác Trần duy Cường tặng cho tôi cuốn "tam thiên tự" và tôi đã mày mò học chữ Hán khổ nổi hôm ni học được một chữ thì ra rọn bấp cột tót lại quên chữ bữa trước nhưng hai chữ Kế môn thì tôi nhập tâm được và được bác Cường và bác Điệt chỉ điểm thêm nên tôi cũng hiểu được nghĩa đen của hai chữ đó là gì.
Năm 2012 năm bốn họ việc tiếu và cũng là năm khánh thành đình làng. Tôi được đọc một cuốn sách của ông Nguyễn thanh Trung đã phát hành trong dịp đó. Trong cuốn sách đó có giải thích hai chữ Kế môn theo cách giải thích đó thì có rất nhiều người tán đồng tâm đắc nhưng với tôi thì rất sai. Chính vì cho rằng sai cho nên đã bị phản ứng dữ dội và cũng đã có người nói rằng:" người ta là tiến sỉ còn mi học hành sức nghỉng chừng mô mà dám nói sai" Đúng vậy bởi vì tôi cũng như bao người khác ở làng vì thời thế nên phải mất học. Năm 1975 tôi học chưa hết lớp 9 và mất học lúc 2 giờ chiều thu 7 ngày 15/3/1975 (3-2 ẠT MAO) nên nói ai mà tin .
Nhưng không thể thấy sai mà nói cho dù ai có phê phán chê trách cũng nói. Nói để tránh di hoạ sau này.
Hai chữ: 薊 門 (Kế môn) là chữ Nôm và có nghĩa là: gần cửa . Đúng hay sai.Theo tác giả thì hai chữ Kế môn có xuất xứ từ 2 câu trong một bài vịnh của vua Đường thái Tông( Lý thế Dân)
Hàn kinh kế môn điệp 寒 惊 薊 門 叶
Thu thoát tiểu tùng chi 龝 說 忄枩
Có lẻ ai cũng biết hai câu này là chữ Hán
Nhưng lại cho rằng hai chữ : kế môn mà ngài Hoàng hối Khanh khởi xướng là : Nôm Tự ( chữ nôm) mà Nôm tự là chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta thì làm sao có xuất xứ từ một câu chữ Hán? Ở đây cho chúng ta biết rằng tác giả không phân biệt hai chữ:薊 門 này là Hán hay Nôm. Chính vì vậy mà giải thích kiểu Hán không ra Hán. Nôm chẳng phải là Nôm:
Theo tác giả thì nghĩa đen hai chữ nôm tự Kế môn là: gần cửa vì kế là: kế cận=gần còn môn là: cửa . Giải thích như vậy là giải thích theo Hán hay nôm? Thật là quá vô lý đã nói là nôm rồi sao lại lấy Hán ra mà dịch
Như chúng ta ai cũng biết rằng: chữ viết là phương tiện để ghi chép tiếng nói của dân tộc cho nên chữ nôm hay chữ quốc ngữ bây giờ đều là ghi chép lại tiếng Việt . Vậy cách dịch nghĩa trên thì có phải là lạ đời lắm không? " tiếng Việt mà lại dịch ra tiếng Việt" vì nói 2 chữ kế môn là chữ nôm tức là tiếng Việt còn 2 chữ "gần cửa" cũng là tiếng Việt.Bản thân hai chữ " gần cửa" mà tác giả dịch ra từ hai chữ" kế môn " thì đã là nôm rồi là tiếng nói của nước Nam ta.
Hai chữ" gần cửa " viết theo mẫu tự latinh này trong chữ nôm được viết như sau:
-Chữ: GẦN: lấy chữ BỐI 貝 và chữ CẬN 近 của chữ Hán mà tạo thành. Nhưng khi viết thì cắt bớt nét của chữ Cận: trong chữ Hán Bối có nghĩa là: lưng còn chữ Cận có nghĩa là: gần
- Chữ: CỬA: lấy chữ Môn門 làm ý lấy chữ: Cử 舉 làm âm mà tạo nên chữ Cửa. Có nhiều kiểu viết chữ cửa bằng cách viết chữ Cử trên, bên phải , bên trái hoặc trong lòng chữ môn.
Còn chữ MÔN 門 mà tác giả dịch là Cửa này thì trong chữ Nôm mượn âm của chữ Hán này để làm chữ: MUÔN và chữ MÒN . Trong chữ Nôm thì chữ Môn 門 này cũng được định danh là từ Hán Việt nhưng không có nghĩa là :Cửa. Còn nghĩa bóng thì theo tác giả rất thâm sâu : Kế là cây cỏ kế . Cỏ kế là cây có gai nhỏ , hoa màu tím đỏ thuộc họ cúc . Có 2 loại đại kế và tiểu kế đều dùng làm thuốc . Ngoài nghĩa "kế cận" "gần"còn có ý nghĩa tinh tuý hơn như "kế hoạch" "kế sách " "kế lược" "đại kế" vv.Thật không hiểu nổi cái nghĩa bóng của chữ Kế nôm tự này. Vì kế là cây cỏ kế chính là nghĩa thực của chữ 薊 Kế này trong chữ Hán .sao lại lấy nghĩa đen của chữ Hán làm nghĩa bóng của chữ Nôm. Còn những chữ nói là có nghĩa tinh tuý kia là từ Hán Việt sao lại đem đánh đồng với chữ kế : gần là nôm tự kia. Nói như vậy thì các chữ như : kế phụ,kế mẫu có nghĩa là: gần cha,gần mẹ hay sao?và các chữ như: kế vị, kế thừa, kế toán, vv thì cắt nghĩa như thế nào đây? Theo cái chữ kế nôm tự kia.Theo tác giả thì chữ Kế còn có ý sâu xa nữa là bằng cách giải thích theo lối chiết tự: chữ Kế nôm tự có 4 bộ hợp thành gồm thảo, điền,đao,thuỷ. Vậy mấy nét trên chữ điền 田 bỏ đi đâu?魚?
Theo đó tác giả phân tích rằng:
- Thảo:草 là thảo mộc ,cây cối tượng trưng cho rừng rú cây cối bao che phủ đất bảo vệ xóm làng bảo vệ môi trường vv. Nhưng chữ thảo trong chữ Kế là艸 được viết theo phồn thể của chữ Hán là 艹 có nghĩa là cỏ chứ đâu có cái nghĩa bao la bát ngát như vậy
- Điền :田 : trong chữ Hán thì đây bộ thủ có nghĩa là ruộng, đồng . Chứ làm chi có nghĩa bao gồm điền địa , đường sá giao thông ở chữ điền này
- THUỶ: 水 (氵)là nước. Chỉ chung ao hồ sông suối
- ĐAO:刂 chữ Hán có nghĩa là: con dao, cái đao . Theo tác giả thì bộ đao này ngoài ý nghĩa tượng trưng nguồn nước mát xuất phát từ các bàu ở rú Vĩnh Xương -Kế môn chảy ven qua làng và con đập Đồng dạ ngăn sóng biển Thuận an tràn lên .cách giải thích này thì nếu như ôn Biện Chước còn thì không biết ôn sẻ nói gì vì sau năm 1975 ở làng mình ôn là người duy nhất biết chữ Nôm. Nói chung tác giả đưa ra cái nghĩa bóng bằng cách chiết tự của chữ Kế nôm tự của tác giả là có ý đồ để phát triển ý tưởng khác . Nhưng tất cả đều lấy theo chữ Hán mà diễn đạt chứ có cái gì nôm với na đâu.Xin hỏi rằng trên thế giới có chữ nước nào mà chỉ một con chữ mà có ý nghĩa bao trùm cả thế giới thiên nhiên như vậy không và nếu đó là đúng thì chữ : Gần nghĩa của chữ Kế mà tác giả đã dịch nghĩa cũng có ý nghĩa sâu xa tinh tuý như vậy ? Còn nghĩa của chữ Nôm theo Nôm tự là: cửa, cửa bể, cửa phá tam giang và chữ Môn còn có nghĩa là: cửa càn khôn mở rộng tận cùng thế giới. Giải thích như vậy thì đến thánh chữ cũng bó tay. Cho nên tất cả những gì liên quan đến hai chữ KẾ MÔN mà ông Nguyễn thanh Trung đã đưa ra trong bài viết thì đối với tôi là hoàn toàn sai. Sai từ chữ nghĩa và sai đến cả ý tưởng của ngài HOÀNG HỐI KHANH khi ngài khởi xướng hai chữ KẾ MÔN. KẾ MÔN có nghĩa là: GẦN CỬA thì chẳng có ý nghĩa nhân văn hay lịch sử gì cả.

NGHĨA THỰC CỦA HAI CHỮ 薊 門 "KẾ MÔN "
Trước hết chúng ta xác định rằng: hai chữ KẾ MÔN tên của làng là chữ Hán . Cho nên phải dịch nghĩa từ chữ Hán
-Chữ: Kế: chữ Hán có 14 chữ được đọc và viết theo tiếng Việt là KẾ
Trong đó có hai chữ Kế thông dụng nhất mà chúng ta luôn sử dụng gọi là từ Hán Việt đó là:
1-繼 chữ kế này có nghĩa là nối tiếp, tiếp theo như: kế vị 繼 位,kế thừa 繼 承 ,kế tục 繼 續 ,繼 室 kế thất ,kế phụ 繼 父,kế mẫu 繼 母, kế thế 繼 世 có câu"tiền phó hậu kế"(前 仆 後 繼 ) người trước ngã xuống người sau tiếp tục ( chữ phó trong này có nghĩa là chết cho nên khi có người chết(ngã xuống ) thì lập CÁO PHÓ có nghĩa báo tin có người chết
2- 計 Chữ kế này có nghĩa là: mưu kế , kế sách. Chỉ sự tinh toán như: 百 計 bách kế, 妙 計 diệu kế,謀 計 mưu kế, 計 畫 kế hoạch, 計 算 kế toán, vv
Hai chữ kế trên trong chữ nôm được định danh là từ Hán Việt .chữ 計 này còn được mượn làm chữ Kề trong chữ Nôm như: kề vai,kề dao,kề rựa
Chữ KẾ trong tên làng chúng ta là chữ KẾ này: 薊 . Chữ Kế này có các nghĩa sau:
- Tên chỉ chung một loài thảo mộc thuộc họ cúc đó là cỏ KẾ . Loại cỏ này có khoảng 150 giống . Về hình dáng và đặc điểm chung của loài cỏ này là: thân to, lá mọc so le hình bầu dục rìa lá giống như vi cá có gai nhọn và sắc, hoa hình tự đầu màu đỏ tía( lục hồng) tím nhạt hoặc màu trắng. Có 2 loại là đại kế và tiểu kế đều là dược liệu
Cây đại kế tên dân gian gọi là cây Ô RÔ cạn , cây sơn ngưu tên khoa học là: cirsium japonicum anh Bùi viết Phú người làng mình đang sống ở Mỹ rất rành loài cây này anh cho biết ở Mỹ gọi là:thistle .Ở làng loại đại kế hoang dã cũng có mọc rải rác ở các vùng đất trằm trong rú còn loại thuần chủng có ở Dalat hoa rất đẹp. Cây tiểu Kế tên dân gian là :thích nhi trà, loại hoa đỏ tía gọi là: cỏ lục hồng hay cỏ nụ hồng. Ở làng mình ai cũng gọi là cây cỏ xước vì lá nó có gai dể bị xước tay khi nhổ nhưng cây cỏ xước là loại cây khác. Tên khoa học của cây tiểu kế là:cirsium segetum Bunge . Cây này ở làng theo các người già nói xưa kia chỗ mô cũng có nhưng giờ thì hơi hiếm vì do người các nơi tới nhổ về bán cho các nhà lam thuốc
-Tên của vùng đất gọi là: KẾ MÔN lập thời Đường huyền Tông ở Ngư dương Hà Bắc Trung quốc
- Họ Kế
Chữ KẾ 薊 gồm 3 bộ thủ hợp thành
- Bộ : Thảo 艸 (艹): cây cỏ(thảo mộc) nguyên là chữ:草 .
- Bộ: Ngư: 魚 :cá
- Bộ: Đao: 刂 nguyên là chữ: 刀 có nhiều nghĩa trong đó có nghĩa là: con dao, cái đao mà ta dùng thường ngày,binh khí dùng để chém giết như: đại đao:大 刀 .chỉ chung vật sắc nhọn
CHỮ:門: MÔN
Trong chữ Hán có 15 chữ được đọc và viết theo tiếng Việt là Môn. Chữ môn trong kế môn là: 門
Chữ môn này có rất nhiều nghĩa
- cái cửa,cái cổng nhưng phải là 2 cánh còn cửa 1 cánh gọi là Hộ戶. Chỉ chung lối ra vào như: lí môn: 里 門 cổng làng,thành môn 城 門 cổng thành - lổ hổng, lổ trống,cửa miệng đồ vật các lổ khiếu trên than thể như: áp môn(lổ cống) 閘 門 ,giang môn (lổ đít) 肛 門 thường gọi là hậu môn. "cẩn thủ tứ môn nhãn,nhỉ,tị,khẩu" cẩn thận canh giữ bốn khiếu mắt, tai,mũi miệng
謹 守 四 門 眼 耳鼻 口
-Chổ then chốt,mối manh :như:"đạo nghĩa chi môn"cái then chốt đạo nghĩa: 道 義之 門。"chúng diệu chi môn" cái then chốt của mọi điều nhiệm mầu: 眾妙 之 門
-Nhà, họ,gia đình,gia tộc:như :danh môn 名 門 nhà có tiếng tăm , vọng môn 望 門 gia thế tiến tăm hiển hách. Chữ Môn trên cổng của các họ có nghĩa là họ .
-Học phái, Tông phái : như: Khổng môn 孔門 Phật môn 佛 門 Tông phái cũng có nghĩa là họ: thập nhị tôn (tông)phái: mười hai họ
- Loài, loại, thứ,ngành: như : phân môn 分 門 chia ra từng loại, từng loài, từng thứ. Chuyên môn: 專 門 chuyên ngành
Qua từng nghĩa của chữ môn 門 đã nêu trên thì chữ MÔN trong hai chữ Kế môn có nghĩa là : LOÀI ( môn trong phân môn
Như vậy qua phân tích hai chữ KẾ MÔN theo Hán tự thì nghĩa đen của hai chữ này có nghĩa là : LOÀI CỎ KẾ
Đúng với câu: "Hàn kinh Kế môn điệp ""vì:"Kế môn điệp" có nghĩa là: Lá của loài cỏ kế
Nhưng hai chữ KẾ MÔN này xét về ý nghĩa thì chỉ là tên của một loài thảo mộc chứ không phải là Mỹ Tự vì khi đặt tên cho làng theo chữ Hán thì thường lấy các mỹ tự để gởi gắm tâm tư nguyện vọng , kỳ vọng của dân chúng vào trong đó thí dụ như làng Vĩnh Xương: Vĩnh: 永: mãi mãi,dài lâu. Xương: 昌: Hưng thịnh. Vĩnh Xương có nghĩa là: Hưng thịnh mãi mãi
Cho nên câu hỏi được đặt ra là vì sao ngài Hoàng hối Khanh lại lấy hai chữ Kế Môn để khởi xướng . Có phải chăng chỉ đơn thuần là do đặc điểm có nhiều cây cỏ Kế? Hay là tâm nguyện của ngài muốn gởi gắm điều gì đó trong hai chữ Kế Môn . Có lẻ là vậy vì ngài là một văn nhân , một chính trị gia lổi lạc đương thời .

HOÀNG HỐI KHANH VỚI HAI CHỮ KẾ MÔN :"SỬ TRONG CHỮ"
Tháng 7 năm 1407 trước áp lực cả hai mặt Hoàng hối Khanh không chịu đầu hàng quân Minh và không muốn bị giặc bắt ngài đã quyết định ẩn trốn . Ngài được những người thân cận đưa về Kẻ Vạy trốn ở khu rừng sát với đập Đồng dạ ngày nay. Trong thời gian ở đây ngài được những người dân và những chàng trai đầy lòng yêu nước bảo vệ và thực hiện kế hoạch vượt biển để đưa ngài ra Bắc tìm đường cứu nước đánh đuổi quân xâm lược. Chính tại nơi đây khi chiều về nhìn những con người không ngại gian khổ sẳn sàng hy sinh vì sự độc lập sau một ngày làm việc vất vả trên vai nặng gánh củi lần bước qua nhwng bải cỏ kế mà vẫn hồn nhiên cất lên lời ca của những bài ca dân giả trên đường về nhà ngài đã cảm tác câu thơ: CỎ LỤC HỒNG TIỀU PHU CA HÁT
KHÓI LAM CHIỀU LẦN BƯỚC CÔ THÔN (trong bài viết về làng Kế môn của ông Dương Thu đăng trên tạp chí sông Hương năm 1988 có nói đến 2 câu thơ này. Ong Dương Thu chính là người mà ông Bùi Giây nhờ tìm các tài liệu về lịch sử của làng) và trong giây phút đầy cảm xúc đó hai chữ KẾ MÔN đã xuất hiện ở trong lòng ngài rồi sau đó ngài khởi xướng lấy hai chữ này để đặt tên cho cái nơi đã đánh dấu một mốc lịch sử trong cuộc đời của ngài. Vậy hai chữ Kế Môn trong ý tưởng của ngài mang hàm ý gì ?
Do bị thất truyền cho nên đây là một ẩn số vì thế muốn giải mã điều này là một sự khó khăn và rất khó để mọi người tán đồng .
Dựa trên câu chuyện của một vị tiền bối đã kể cho tôi nghe . Tôi xin lý giải hàm ý của hai chữ : KẾ MÔN qua câu thơ cổ bằng chữ Hán như sau:
薊 門 何 處 盡 堯封
KẾ MÔN HÀ XỨ TẬN NGHIÊU PHONG
"Vùng đất nào ở Kế Môn được phong cho con cháu Đế Nghiêu"
Đây là một câu thơ trong bài thơ : CHƯ TƯỚNG KỲ (3) của nhà thơ ĐỔ PHỦ thời sơ Đường. Câu thơ này tôi được cụ Hoàng Ngọc Hiến người họ Hoàng Ngọc làng Hiền lương đọc cho tôi nghe vào năm 1988. Cụ Hiến trước kia là một quan nhỏ dưới triều vua BẢO ĐẠI sau khi ĐẾ QUỐC VIỆT NAM do vua BẢO ĐẠI thành lập cụ chuyển qua làm việc ở bộ tài chính của chính phủ do cụ TRẦN TRỌNG KIM làng thủ tướng còn bộ tài chính do cụ HỒ TÁ KHANH người làng Kế Môn làm bộ trưởng( CP này tồn tại chỉ trong 4 tháng 17/ 4 đến 5/8 năm 1945) . Cụ Hiến kể:" cụ là một người điềm đạm và mực thước lắm . Cụ biết tui là họ Hoàng Hiền lương nên cụ đối với tui cũng có sự ưu ái. Có lần nói chuyện về làng của cụ thì cụ nói rằng:hai chữ Kế Môn làng cụ tât cả ý nghĩa đều ở câu thơ: "
Kế môn Hà xứ tận Nghiêu phong " nhưng cụ không thích nghĩa. Cháu về làng hỏi mấy ôn biết chữ Hán coi có ôn mô biết khôn "( cụ Hiến ở sát nhà dì ruột tôi trong chợ Xép Huế)
Đây là câu thơ cổ thì làm sao ở làng có ai biết được . Còn bài thơ và tác giả của câu thơ thì trong quá trình tìm tòi chữ Kế môn trong tự điển Hán nôm trên mạng tôi mới biết được. Nhưng không biết ý nghĩa trong câu thơ này.
Năm 2016 khi về tảo mộ để tìm nguồn gốc của các họ tôi có đọc cuốn sách "Bách tính gia" trên mạng và tôi đã tìm ra được ý nghĩa của câu thơ: Kế môn Hà xứ tận Nghiêu phong" này :
"Sau khi diệt nhà Thương lập nên nhà chu . Chu vũ Vương đã cắt đất cho các chư hầu ( mỗi chư hầu là một nước nhỏ của Thiên Triều Chu) trong đó có 3 quốc khách( quốc khách nghĩa là nước không bị lệ thuộc thiên triều chỉ là khách) . Một trong đó có vùng đất Trần được phong cho con cháu của Đế Nghiêu Đế Thuấn để tưởng nhớ đến công đức của hai vị này( thời tam hoàng ngũ đế) gọi là nước Trần . Sau đó bị nước So chiếm vào thế kỷ thứ 10 TCN.Dân chúng ở đây lấy tên đất làm họ tức là họ TRẦN và chính ở vùng đất này thời Chu vũ Vương có người tên là VĨ MÃN con của Ngu Yên cũng là hậu duệ của Ngu Thuấn đã lập nên họ HỒ. Đến thời nhà Đường vua Đường huyền Tông lập nên quan ải KẾ MÔN và vùng đất phong cho con cháu Đế Nghiêu xưa kia cũng nằm trong đất của quan ải Kế môn này ( Ngư dương Hà bắc TQ)Cho nên ĐỔ PHỦ mới hỏi: " Kế môn hà xứ tận Nghiêu phong". Ở nước ta khi Hồ quý Ly lập nên triều đại nhà Hồ lấy quốc hiệu là : ĐẠI NGU có ý nói mình là dòng dỏi của Nghiêu Thuấn và mong muốn đất nước thanh bình thịnh trị như thời Nghiêu Thuấn "
Như vậy hai chữ KẾ MÔN mà ngài HOÀNG HỐI KHANH khởi xướng chính là tên của quan ải Kế môn . Nơi mà xưa kia là nguồn cội của Họ Trần và Họ Hồ .
Bởi vì:
-Hai triều đại Trần và Hồ ở nước ta là nơi con đường công danh và sự nghiệp của ngài bắt đầu và kết thúc. Ngài muốn qua hai chữ Kế môn này để đánh dấu cái mốc quan trọng của cuộc đời và sự nghiệp của mình.
- Ngài muốn qua hai chữ KẾ MÔN này để tỏ rỏ là ngài vẫn trung thành chứ không có ý phản Hồ .
- Dù đang trong hoàn cảnh gian nan và nguy hiểm nhưng ngài vẫn mơ đến cảnh thanh bình thịnh trị của đất nước về sau và qua hai chữ KẾ MÔN này để củng cố niềm tin và quyết tâm cho những người cùng chí hướng với ngài trên con đường kháng chiến đánh đuổi giặc Minh xâm lược.
Đó là tất cả những gì mà ngài HOÀNG HỐI KHANH mong muốn khi ngài khởi xướng hai chữ KẾ MÔN để đặt tên cho làng chúng ta xưa kia và là ẩn số của thế hệ chúng ta ngày nay
Khi thuyền đã làm xong ngài cùng tám người con yêu nước của KẺ VẠY trong đó có 4 người là anh em chú bác ruột của họ Hoàng Ngọc vượt biển ra Bắc những mong hội tụ cùng những người con yêu nước ngoài đó để cùng nhau tìm đường cứu nước .
Nhưng than ôi! Khi thuyền đến cửa Hội((Nghệ an) thì gặp phải sóng to gió lớn thuyền lật để rồi ngài trở thành vị "văn thần chí tận" lấy cái chết để đền nợ nước còn 8 người con thương nước yêu nòi của KẺ VẠY thì không biết thây phơi đồng nội hay trôi dạt về đâu.
- tương truyền khi nhận được hung tin người dân Kẻ Vạy thương xót vô cùng sau đó đã lập 8 ngôi mộ gió để linh hồn các ngài đi mây về gió có nơi mà ngơi nghỉ (mộ gió là mộ làm cho những người chết không tìm thấy thi thể đa phần làm cho những người chết ở biển nhưng giờ thì un mộ để giữ đất cũng gọi là mộ gió) về sau này có 2 ngài được gia đình làm cốt dâu để an táng gọi là mộ cốt dâu( mộ cốt dâu là dùng cây dâu để làm hài cốt của người chết rồi nhờ thầy pháp làm lể"chiêu hồn nhập cốt"sau đó an táng theo nghi lể như mộ cải táng)sau năm 1975 lúc nhánh 5 kỉnh của họ Hoàng Ngọc còn chạp mộ chung ôn Viên Chỉ có chỉ tôi một ngôi mộ đời thứ 5 của họ và nói đây là mộ cốt dâu của ngài ngày xưa chết ở biển Nghệ An (đến nay tôi vẫn có thể nhớ địa điểm của ngôi mộ đó ) rồi ôn nói còn một ngôi của ngài họ BÙI khi mô ôn chỉ cho mà biết.nhưng tôi chẳng có cơ hội để ôn chỉ. Nếu là có thì không biết bác nào trong họ biết không.
Tương truyền xưa kia các ngôi mộ gió này ở khu vực nhứt đông gọi lum mộ gió giờ thì chẳng biết ở đâu nhưng khi nói về lum mộ gió này thì chú Bùi Giây và tôi có chung một thông tin có thể là địa điểm của lum mộ gió xưa kia nhưng chúng tôi không có chứng cớ để khẳng định.
Đến khi quân Minh bắt đổi tên làng thì tiền nhân của chúng ta lấy hai chữ KẾ MÔN mà ngài Hoàng hối Khanh đã khởi xướng để làm tên mới của làng bởi vì về nghĩa đen thì chỉ là tên của một loài cỏ và là tên một địa danh bên Tàu nên không sai quy định của giặc Minh. Nhưng bên trong lại ẩn tàng một câu chuyện lịch sử đầy bi tráng của làng mà là lịch sử truyền khẩu bí mật cho nên đời sau khó mà giải thích vì hai chữ KẾ MÔN là: "SỬ TRONG CHỮ"
     HUẾ ngày 21/1/2018
     Trần Duy Huấn
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 94
Tổng truy cập: 583.134