Thông báo

30/012018

Tham luận về nguồn cội (tóm lược bài 3)

TÓM LƯỢC & VÀI Ý KIẾN VỀ
BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ TRẦN DUY HUẤN

       Vì bài viết của tác giả Trần Duy Huấn khá dài nên có thể nhiều bạn đọc sẽ khó tiếp thu. Chúng tôi xin phép tác giả được tóm lược và nêu bật những ý chính, đồng thời có một vài ý kiến nhỏ giải thích thêm để bạn đọc có cơ sở tham gia ý kiến.
 

      -Về thời điểm hình thành làng:
 
      Tác giả cho rằng, làng được thành lập vào thời nhà Trần. Nghĩa là ngay sau khi người Việt tiếp thu hai châu Ô, Rý của người Chăm và đổi thành hai châu Thuận, Hóa. Đây là đợt di dân Nam Tiến đầu tiên vào vùng đất này theo chính sử. Cụ thể là vào năm 1313 đời vua Trần Anh Tông.  Từ 1311đến 1341: đây là thời kỳ mà nhà Trần còn mạnh về mọi mặt khống chế và tham dự vào triều chính của Chiêm Thành cho nên việc di dân được dân hưởng ứng, nhất là sau sự kiện năm 1311. Năm 1312 vua ra chiếu khuyến khích đi dân thì năm1313 đã có nhiều thôn làng được công nhận về mặt hành chính”.
 
      Tác giả bác bỏ ý kiến cho rằng làng ra đời khoảng năm 1390 (trên trang langkemon.com.vn của tg Đặng Hữu Hùng) vì đây là thời kỳ loạn lạc, chiến tranh Việt Chiêm nổ ra. Bác bỏ ý kiến của tg Nguyễn Thanh Trung khoảng năm 1410 vì đây là “thời Hậu Trần kháng Minh nhưng đang suy yếu, không có đợt di dân nào”. Đồng thời, bác bỏ ý kiến của tg Thảo Dân khoảng 1471-1473 vì cho rằng, dù đây là đợt di dân quy mô lớn thời vua Lê Thánh Tôn, nhưng đợt này chỉ dành cho các làng ở vùng đất mới chiếm, không phải vùng đất cũ của Kế Môn.
 
     Để củng cố cho lập luận dựa trên chính sử này – sử mà ai cũng có thể đọc được, nhưng chỉ có tính bao quát, chung chung, rất khó xác định - tác giả đã dựa vào “sử dân gian” thông qua truyền khẩu, với những chứng cứ thu thập được như: Tịnh bà chi mộ (tục hợp táng), hai từ giặc Mường, chuyện nhân vật Hoàng Hối Khanh, di tích mả vôi và chuyện nhân vật Trần Duy Việt của họ Trần Duy...để xác định thời điểm thành lập làng.
 
      -Về ý nghĩa tên Kế Môn của làng:
 
      Có một tình tiết mới đáng lưu ý. Đó là khi mới thành lập, làng có tên Nôm là KẺ VẠY (lấy đặc điểm Khút Bàu Ngược để đặt) song song với tên Hán là HOA LĂNG (nghĩa là oai linh, đẹp đẽ). Như vậy 2 cái tên này đã tồn tại từ lúc lập làng (1313) cho đến khi có tên mới là KẾ MÔN vào thời nhân vật Hoàng Hối Khanh “ghé qua làng” (1407), nghĩa là gần 100 năm sau.
 
      Đây là điểm mà các tác giả khác chưa hề nghĩ tới, vì lâu nay cứ mặc định rằng tên Kế Môn đã có từ khi lập làng. Bởi cứ nghĩ rằng nếu tên do cụ Hoàng Hối Khanh khởi xướng thì làng phải ra đời vào thời cụ Hoàng có mặt ở Kế Môn, nghĩa là đã mặc định rằng mốc thành lập và tên làng phải ra đời cùng một thời điểm. Đó có thể là một nhầm lẫn. Tiếc rằng tác giả đã không nói rõ tên Kẻ Vạy và Hoa Lăng đã tham khảo từ tài liệu nào, hay cũng chỉ là truyền khẩu. Vậy thì có đáng tin không?
 
      Về lý do phải đổi tên, theo tác giả, là do quân Minh bắt buộc. Điều này theo chính sử có vẻ chưa hợp lý lắm vì quân Minh chỉ chi phối chính sự Đại Việt thời Hậu Trần (1407-1414) và chính thức đô hộ Đại Việt (để buộc thay đổi tên làng – nếu có) từ thời 1414 trở đi, nghĩa là khoảng 7 năm sau khi cụ Hoàng đã mất vào năm 1407. Phải chăng cụ Hoàng chỉ gợi ý sẵn, sau khi cụ mất, các vị tiền bối của làng mới lấy tên Kế Môn để đặt?
 
      Về nghĩa hai từ Kế Môn 薊 門, tác giả cũng cho rằng, chữ Kế 薊 ở đây là cây cỏ kế (từ điển Hán Việt tra trên mạng, không biết của ai, nhưng từ điển của Đào Duy Anh thì không có chữ 薊 này). Tuy vậy nghĩa của chữ Môn 門 ở đây dù viết giống nhau nhưng  nghĩa thì hoàn toàn khác, không phải cổng hay cửa. Nghĩa của chữ Môn 門 này là là loài, chủng loại. Như vậy ghép chung hai chữ Kế Môn có nghĩa là loài cỏ kế.
 
      Đây cũng chính là nghĩa trong bài thơ có câu “Hàn kinh kế môn diệp”,  cũng là nghĩa trong câu thơ mà cụ Hoàng Hối Khanh đã cảm tác viết nên khi nhìn đoàn nông phu sau một ngày làm việc vất vả, trên vai nặng gánh củi lần bước qua những bãi cỏ kế mà vẫn hồn nhiên cất lên lời ca của những bài ca dân dã trên đường về nhà: “Cỏ lục hồng tiều phu ca hát –Khói lam chiều lần bước cô thôn”.
 
    Tác giả còn đi sâu hơn tìm hàm ý của 2 chữ Kế Môn qua câu thơ cổ bằng chữ Hán “薊 門 何 處 盡 堯封 Kế Môn hà xứ tận nghêu phong” (Vùng đất nào ở Kế Môn được phong cho con cháu Đế Nghiêu)  và nhận ra rằng  “hai chữ KẾ MÔN mà ngài Hoàng Hối Khanh khởi xướng chính là tên của quan ải Kế Môn, nơi mà xưa kia là nguồn cội của họ Trần và họ Hồ. Bởi vì: - Hai triều đại Trần và Hồ ở nước ta là nơi con đường công danh và sự nghiệp của ngài bắt đầu và kết thúc. Ngài muốn qua hai chữ Kế môn này để đánh dấu cái mốc quan trọng của cuộc đời và sự nghiệp của mình. - Ngài muốn qua hai chữ KẾ MÔN này để tỏ rõ là ngài vẫn trung thành chứ không có ý phản Hồ.
 
     -Tóm tắt:
 
     Theo tác giả Trần Duy Huấn, làng được thành lập vào thời nhà Trần, niên đại 1313 đời vua Trần Anh Tông. Như vậy tính đến nay (2018) là 705 năm (trên 700 năm), một lịch sử ra đời và tồn tại khá dài. Còn tên Kế Môn là do nhân vật Hoàng Hối Khanh khởi xướng đặt từ đầu thế kỷ XV (1407), với nghĩa gần là loài cỏ kế, nhưng bao hàm nghĩa xa hơn là quan ải Kế Môn, để nói lên tâm sự yêu nước và “hoài Hồ” của cụ Hoàng.”*
 
-----------------------------------
 
(*) NHỮNG BĂN KHOĂN CẦN GIẢI MÃ:
 
       Trước tiên xin cảm phục tác giả Trần Duy Huấn đã có bài viết khá dồi dào tình tiết với nhiều chứng cứ truyền khẩu rất phong phú đã thu thập được. Đọc qua phát hiện nhiều điều thú vị, tưởng chừng như đã “bắt được vàng”! Tuy vậy, bản thân tôi (Nguyễn Thanh Mạo) vẫn còn một vài băn khoăn:
 
      1.Về thời điểm lập làng: Năm 1313 có sớm lắm không? Hãy làm một phép tính đơn giản với 705 năm tồn tại đó thì họ có nhiều đời nhất ở làng hiện nay là bao nhiêu đời (ở đây xin hiểu nghĩa chữ ĐỜI một cách giản dị như: đời cha, đời ông, đời cố, đời sơ...không cần phải  hiểu là thế hệ hay huyết hệ cho rắc rối). Theo tôi, nếu tính căn bản, cứ đến 20 tuổi lập gia thất rồi sinh con đẻ cái (chưa tính ngày xưa con nhà nông nông trai gái 17,18 tuổi đã dựng vợ gả chồng), thì với hơn 700 năm tồn tại từ khi lập làng, một dòng họ sẽ có được 35 đời (nếu trừ đi các đời đầu - nếu có - ở cố hương Thanh Nghệ thì ít nhất cũng có được 30 đời). Rất tiếc, tôi không có dịp đọc gia phả hay mục lục phù ý các họ ở làng để biết họ nào đến nay có trên 30 đời chưa. Riêng họ Nguyễn Thanh (xuôi) của tôi, theo gia phả họ, tôi năm nay 73 tuổi là đời thứ 14, cháu nội tôi là đời thứ 16 năm nay 18 tuổi.
 
      2.Về tên Kẻ Vạy: Theo tác giả “Vạy” chỉ địa hình đặc biệt của Khút Bàu Ngược, nơi sông Ô Lâu chảy “ngoặc” lại tạo thành vũng nước xoáy. Nhưng nếu chỉ vì phát hiện ra nhóm từ “thượng khúc vạy, trung khúc vạy và hạ khúc vạy” là tên của ba con đường (Đường Cấy, đường Ngang và đường Quan) mà suy ra tên làng là Kẻ Vạy, thì có lẽ chưa thuyết phục. Bởi vì 3 con đường ấy đều thẳng băng, không cua quẹo, ngoặc ngoèo gì cả.
 
       2.Về tên Kế Môn: Giả sử ta chưa hiểu hết nghĩa của 2 từ Kế Môn là gì, nhưng nếu tên Kế Môn này chỉ là bao hàm “tâm sự yêu nước, hoài Hồ” của cụ Hoàng Hối Khanh, một nhân vật chỉ thoáng chốc đi qua làng với hành tung “bí mật không thể nói ra” (vì cho rằng có người làng mang “dấu” cụ ấy?), thì đối với làng Kế Môn nó có ý nghĩa gì? Không lẽ tên làng lại phải đi vay mượn, lấy “tâm sự” của một người khác để đặt cho? Không lẽ các vị tiền bối làng ta lại ...đồng cảm sâu sắc với tâm sự “hoài Hồ” của cụ Hoàng Hối Khanh đến mức ấy?
 
*Nguyễn Thanh Mạo
Chủ biên www.langkemonsaigon.com
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 4
Tổng truy cập: 519.739