Thông báo

19/012018

Tìm hiểu các nghi thức tế lễ cổ truyền

 XƯỚNG DẪN
TRONG NGHI THỨC TẾ LỄ CỔ TRUYỀN
Ở KẾ MÔN


 
     Về các nghi thức cúng tế truyền thống có tính cộng đồng của người Việt nói chung, ở miền Trung nói riêng, đặc biệt là ở làng Kế Môn, mọi con dân trong làng, nam phụ lão ấu, thế hệ này qua thế hệ khác hầu như đều có dịp tham gia hoặc chứng kiến và đều đã quá quen với những sự kiện này. Ở đình làng thì “Xuân Thu nhị kỳ” cúng Minh Niên và Thu Tế, ở các từ đường họ thì cúng Giỗ Chạp hằng năm, rồi đại lễ Việc Tiếu 12 năm một lần. Lại còn có những nghi lễ khác mang màu sắc Phật giáo như “Trai Đàn Chẩn Tế” hay lễ “Kỳ Yên” (tức cầu an - vốn là từ của người Nam bộ) tổ chức không theo định kỳ, vv và vv...
 
     Những nghi lễ này, tùy sự kiện lớn nhỏ mà có nội dung và nghi thức hơi khác nhau.  Các cuộc lễ lớn theo trình tự có lễ “Hưng Tác”, rồi đến “Túc Yết”, lễ "Hành Hương", lễ cúng “Cô Hồn”, và cuối cùng mới là “Chánh Tế”. Việc Tiếu thì có thêm các lễ Thượng Phan, Triệu Tổ, lễ Nghinh Sơn, Nghinh Thủy... Nhưng tựu trung phần cốt lõi của lễ Chánh Tế vẫn là dâng cúng ông bà tổ tiên lễ vật với đầy đủ ba tuần rượu và một tuần trà. Hành lễ có chiêng trống, lễ nhạc phụ họa, có xướng dẫn, có đọc văn tế... Tất cả diễn tiến theo một trình tự giống nhau từ lúc bắt đầu cho đến lễ tất.
 
     Tuy vậy, nếu hỏi một người dân bình thường, đặc biệt là các bạn trẻ hiện nay về ý nghĩa và mục đích của từng nghi lễ trên là gì thì không phải ai cũng biết, thậm chí rất mù mờ. Chẳng hạn như “Thượng Phan” có ý nghĩa gì, tại sao trên đỉnh cây phan lại có con chim ưng? Hay lễ Túc Yết là gì, nếu “túc” có nghĩa là “ban đêm” thì tại sao có lúc lại cúng vào ban ngày. Ngược lại, tại sao lễ Chánh Tế lại phải cử hành vào đêm muộn lúc 10 giờ tối mà không phải là sáng hay trưa hay chiều? Còn lễ “Hưng Tác”- thường để mở đầu cho cuộc lễ - có ý nghĩa ra sao, phải chăng là... các bộ phận chịu trách nhiệm hành lễ “trình diện” và cam kết “hoàn thành nhiệm vụ” trước ông bà? Và tại sao có nơi ghi là “Hưng Trác”?
 
     Người viết bài này đã từng tra cứu qua sách vở, qua mạng Google, đặc biệt tham khảo ý kiến của các bậc tiền bối trong và ngoài làng, nhưng rất tiếc vẫn không có được câu trả lời thống nhất và rõ ràng để có thể truyền đạt lại cho các bạn trẻ. Vì vậy mà với bài viết gợi ý này, mong rằng nó như một diễn đàn mở để bà con tham gia đóng góp ý kiến, đặc biệt xin thỉnh ý từ những đồng hương lão thành hay có vốn về Hán học, hiểu biết cặn kẻ về các nghi lễ cổ truyền trong dân gian, đặc biệt riêng ở Kế Môn. Điều này sẽ giúp thế hệ trẻ trong làng hiểu biết hơn vể cội nguồn, về một di sản văn hóa tâm linh ngay chính trên quê hương mình. Sẽ là rất vô tình và thiếu sót nếu chúng ta không biết gì về những lễ nghi mà mình đang tổ chức thực hiện và đang cố bảo tồn gìn giữ.
 
     Bài viết mở đầu xin đề cập tới bộ phận “xướng dẫn”, vốn đảm nhận vai trò hết sức quan trọng trong việc chỉ huy và điều hành cuộc lễ. Có lẽ đây cũng là công việc khá quen thuộc với các bạn trẻ, vì trong thực tế nhiều bạn đã từng tham gia vào các vai xướng hoặc dẫn. Nó cũng gây nhiều chú ý vì những âm thanh, âm giọng phát ra khá độc đáo của những lời xướng, đôi khi lạ lùng, ngộ nghĩnh về từ ngữ, bởi toàn bộ các câu xướng đều bằng Hán tự, mà chỉ có “người trong cuộc” mới hiểu và cứ máy móc "xưa bày nay làm" mà thực hành.
 
     -Về vai trò và tổ chức:
 
     Bộ phận (hay ban) xướng dẫn gồm một (01) vị chỉ huy và 2 toán quân: toán xướng và toán dẫn. Tùy lễ lớn hay nhỏ mà có “quân số” phù hợp. Nhưng tối thiểu phải có 2 người xướng và 2 người dẫn (để phục vụ cho ít nhất là một án thờ). Nếu cuộc lễ diễn ra với 3 án thờ (1 chủ tế và 2 bồi tế) thì phải cần 6 vai dẫn, hoặc tối đa với 5 án thờ  (1 chủ tế và 4 bồi tế)  thì phải có tới 10 người dẫn (với 10 khay trầu rượu) tương ứng.
 
     Vị trí của bàn xướng dẫn thường được đặt ở nơi thông thoáng để vị chỉ huy có được cái nhìn bao quát toàn diện diễn tiến cuộc lễ, từ bên ngoài sân đến tận bên trong các gian thờ. Với trình tự bài bản truyền thống về hành lễ có sẵn, sau khi tất cả đều sẵn sàng, vị chỉ huy bắt đầu điều hành cuộc lễ bằng những “hiệu lệnh” nhắc truyền qua cho toán xướng. Toán xướng cứ việc nghe tới đâu xướng lên tới đó. Và những chức sắc ở các án thờ bên trong từ chánh đến phụ bái, đến các chấp sự giúp việc cứ nghe cho kỹ rồi làm theo (nôm na là biểu gì làm nấy).
 
     Nghe qua thì dễ, nhưng thực tế, trong tình huống không gian khói hương nghi ngút và tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng nhã nhạc cứ liên tục vang lên ì xèo, khiến người trong cuộc thường bị phân tâm, rối trí, lúng túng quên cả bài vở. Nhiều khi vai xướng trong phút chốc thiếu tập trung nghe nhầm rồi xướng nhầm. Hoặc chức sắc hành lễ bên trong không nghe rõ lời xướng rồi lúng túng, lỡ nhịp. Đó là chưa nói đến giọng xướng, đôi khi hai hoặc nhiều người có “tông” giọng khác nhau mà hợp xướng lên nghe có vẻ như đang...hát bè, cũng khá khôi hài.
 
     Tất nhiên những người đóng vai xướng thì đơn giản cứ mắt nhắm, tai nghe chỉ huy nhắc gì xướng nấy, tự động như cái máy. Vậy mới có chuyện tiếu lâm thêu dệt rằng có lần, vị chỉ huy nhắc “bái”, rồi chợt thấy bên trong chưa sẵn sàng bèn ngăn “khoan đã, khoan đã”, tức thì hai ông xướng cùng lên giọng “k h o a n đ ã... k h o a n đ ã”!!! Riêng các vai dẫn thì phải tập dợt với nhau nhiều lần để hành lễ cho đồng bộ, từ thao tác bước đi, dừng lại, quay người đối diện nhau trước chánh phụ bái, đến thao tác quỳ và dâng khay... tất cả vị trí ở các án thờ đều phải nhất cử nhất động ăn nhịp đồng loạt với nhau mới đạt yêu cầu.
 
     Có thể nói một cuộc tế lễ ở đình, ở từ đường, cũng tương tự một vở diễn trên sân khấu, các nhân vật phụ trách (gọi là chấp sự) cũng giống như những diễn viên, và người chỉ huy (ở ban xướng dẫn) cũng đóng vai trò quan trọng chẳng khác gì một đạo diễn. Vì vậy mà một cuộc lễ được đánh giá là trang nghiêm, long trọng, khi nó được thực hiện một cách nhịp nhàng giữa tất cả các bộ phận, giữa các chấp sự từ bên ngoài cho đến các chức sắc phụ trách dâng lễ trực tiếp ở nội điện. Về âm thanh: tiếng chiêng, tiếng trống đại, tiếng trống cơm, tiếng kèn, tiếng đàn nhị cộng với tiếng xướng ngân vang tạo thành một màn hợp xướng độc đáo khiến người nghe có cảm giác như đang đắm mình vào với thế giới tâm linh, thiêng liêng và huyền diệu.
 
     -Về trình tự hành lễ:
 
     Từ đầu cho đến cuối theo trình tự gồm 5 phần: A - phần khởi lễ (chuẩn bị sẵn sàng), B - phần sơ hiến lễ (dâng lễ lần đầu), C - phần á hiến lễ (dâng lễ lần hai), D - phần chung hiến lễ (dâng lễ lần ba) và E - phần lễ tất. Xướng và dẫn cụ thể theo bảng dưới đây (tùy lễ lớn nhỏ có thể khác nhau đôi chút):

 





Bài và ảnh: Nguyên Thanh
 
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin liên quan

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 2
Tổng truy cập: 554.862