Thông báo

20/112017

Trường cũ thầy xưa

TAM GIANG
TRƯỜNG TRUNG HỌC ĐẦU TIÊN
CỦA XÃ PHONG HƯƠNG

 (Hồi ký)


      Vào cuối thập niên 1950 thế kỷ trước, thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, xã Phong Hương gồm các làng: Đại Lộc, Kế Môn, Vĩnh Xương, Tân Hội, Trung Đồng và Thanh Hương. Thời kỳ ấy, xã này chưa có trường Trung học (tức cấp 2 bây giờ) mà chỉ có hai trường Tiểu học công lập, một ở đầu làng Đại Lộc gọi là trường Tiểu học Đại Lộc và một ở giữa hai làng Kế Môn và Vĩnh Xương có tên gọi là trường Phong Hương. Đặc biệt trường Phong Hương chỉ có từ lớp Năm đến lớp Nhì (tức lớp 1 đến lớp 4 bây giờ) mà chưa có lớp Nhứt.

      Vì vậy mà sau khi học xong lớp Nhì, học trò của Kế Môn và Vĩnh Xương mỗi em phải tự tìm lấy con đường đi tiếp, hoặc vô Huế, Đà Nẵng hoc nghề, hoặc muốn tiếp tục “học chữ” thì phải xuống Thế Chí Đông, ra Quảng Trị hay vô Dinh. Riêng tôi và 4 học sinh Kế Môn khác được trường Tiểu học Đại Lộc ưu ái nhận vào học lớp Nhứt qua giới thiệu và gởi gắm của thầy Tô Thành Kiện từ trường Phong Hương. Thời điểm ấy, thầy Trương Minh Đài làm hiệu trưởng kiêm “chủ nhiệm” lớp.
 
      Xong lớp Nhứt học sinh được cấp bằng Tiểu học, căn cứ vào điểm trung bình học lực qua điểm số hàng tháng mà không phải thi. Trong văn bằng ghi rõ là “miễn thi”. Sau đó. mạnh ai nấy nộp đơn thi tuyển vào các trường trung học công lập gọi là thi vào Đệ Thất (tức vào lớp 6 bây giờ). Kỳ thi này khá quan trọng thường chỉ diễn ra ở các trường lớn ở Huế như Hàm Nghi, Quốc Học, Đồng Khánh, Nguyễn Du... Đậu vào Đệ Thất các trường này thì ai cũng ước ao và là bước khởi đầu khá thuận lợi cho đường học vấn trong đời.
 
      Riêng tôi, từ ấy tôi bắt đầu nghỉ học để ở nhà làm ruộng. Có lẽ vì ông thân sinh tôi cho rằng học tới chừng đó là ...đủ rồi, vì đã có thể đọc truyện Tấm Cám, Phạm Công Cúc Hoa... và đọc được thư, viết được thư... Chưa kể trước đó, thời Pháp thuộc, đậu được Primère (văn bằng Tiểu học) là “oách” lắm rồi. Một lý do khác sau này tôi mới hiểu là ông bà không muốn tôi rời khỏi làng, đi xa, vì tôi là con trai út duy nhất còn lại trong gia đình. Và thế là tôi bắt đầu tay cuốc, tay cày, trồng khoai, cuốc ruộng, tát nước, đạp lúa ...như một anh nông dân trẻ...
 
      Thực ra tôi vẫn tự biết, với vóc dáng và sức lực của mình, tôi không thể là một nông dân thực thụ để làm việc đồng áng có hiệu quả. Có lúc tôi đã nghĩ tới chuyện vào Đà Nẵng cùng với anh trai để học nghề thợ bạc, ước mơ sẽ có được bộ cánh sang trọng đỏm dáng như thế hệ đàn anh khi về quê ăn Tết, lịch sự trong đôi giày tây bóng lộn, chiếc áo sơ-mi bằng vải popline trắng toát và chiếc quần dacron ủi thẳng nếp với đường “ly” bén đến nỗi sờ vào có thể bị ...đứt tay!
 
      Nhưng rồi, ý nghĩ đó cũng vội tan đi. Những hình ảnh ấy vẫn không hấp dẫn được tôi bằng những “con chữ” mà tôi hằng yêu thích. Giờ nghĩ lại mới thấy đó là định mệnh, bởi vì nếu ngày ấy tôi chấp nhận theo học cái nghề thợ bạc này - một nghề mà quý ân nhân ngày trước đã đặc biệt ưu ái dành cho người Kế Môn - có lẽ tương lai tôi hiện tại sẽ khác đi. Nói theo duyên nghiệp, quả là tôi không có duyên với nghề thợ bạc. Trong thâm tâm, tôi vẫn luôn ao ước được cắp sách đến trường.
 
      Cho đến một ngày, dịp may tới khi ở Nhà thờ Công giáo làng Đại Lộc, cha sở cho mở ra một trường trung học tư thục. Gọi là trường cho oai chứ thật ra đây chỉ là một lớp học duy nhất: lớp Đệ Thất, dành cho những con em không có điều kiện đi xa vào thành phố tiếp tục theo trung học hay thi rớt vào Đệ Thất trường công. Trường lấy tên là “Tam Giang” - cùng tên với trường Trung học Tam Giang, giáo xứ Lai Hà bên kia sông, thuộc xã Phong Chương. Trường do vị linh mục tên Kính sáng lập, thường gọi tắt và thân mật là Cha Kính!

      Và thế là một con đường mới được mở ra. Niềm hy vọng trong tôi lại lóe sáng. Tôi lại trở về với sách đèn mà trước đó tưởng chừng như đã chấm dứt. Đêm trước ngày nhập học, tôi không tài nào ngủ được, hễ chợp mắt là tôi mường tượng ra một lớp học trong đó hiện rõ những khuôn mặt chăm chú, nghiêm trang, tiếng rao giảng của thầy hùng hồn trước tấm bảng đen rộng mở chi chít những hàng chữ và con số bằng phấn trắng…

      Thực tế, lớp học là một căn nhà tường gạch mái lợp tôn, nằm ở góc sân bên phải ngôi Nhà thờ bề thế với tháp chuông cao của giáo xứ Đại Lộc. Đặc biệt, chỉ có hai thầy giáo phụ trách: thầy Hương, người thanh cảnh, hiền lành, dạy các môn Văn, Sử, Địa và thầy Bộ, người mập mạnh, hoạt bát, dạy Toán, Lý, Hóa. Cả hai thầy đều từ nơi khác đến, do Cha sở bổ nhiệm từ trong các con chiên tin cậy của mình. Và cha Kính cũng mặc nhiên là hiệu trưởng.

      Lớp có khoảng hơn ba mươi học sinh, đa số là người làng Đại Lộc, một số làng Thế Chí Tây. Phần lớn là con em gia đình Công giáo. Chỉ có Phiệt và tôi, từ làng Kế Môn xuống, là Phật tử chính cống. Chúng tôi bắt đầu làm quen với chương trình bậc trung học, tò mò trước những môn học mới và làm quen với thầy giáo mới, bây giờ không phải chỉ một như ở cấp Tiểu học, mà là hai, thậm chí là ba, bốn hay nhiều hơn, mỗi thầy phụ trách một môn học như ở các trường khác mà tôi nghe nói.

      Mặc dầu tôi và Phiệt đến học trễ những hơn mười ngày, nhưng chúng tôi vẫn nhanh chóng tiếp thu bài vở và bắt kịp các bạn. Không những vậy còn vượt lên  ở vị trí tốp 5, rồi tốp 3, gây cho cha sở sự chú ý đặc biệt. Tôi còn nhớ mường tượng Cha đã cho gọi riêng tôi khen ngợi, hỏi han về gia cảnh của tôi, và trong ánh mắt tinh anh của Cha, như muốn nói lên một điều gì đó, mà khi lớn lên, tôi mới chợt hiểu, rằng hình như Cha vẫn muốn tôi trở thành một con chiên ngoan đạo, hơn là một Phật tử! Có lẽ  vì vậy mà dù là trường tư, tôi vẫn không thấy Cha cho thu một đồng học phí nào cả. Chỉ là học miễn phí mà thôi!

      Năm học này có hai sự kiện mà tôi vẫn nhớ mãi trong đời. Một là sự kiện tướng Nguyễn Chánh Thi đảo chánh lật đổ Tổng thống Diệm nhưng bất thành. Và bọn học trò nhà quê chúng tôi biết được tin sốt dẽo này qua một dịp hết sức tình cờ, khi mà thời bấy giờ, ở vùng quê tôi làm gì ai có được chiếc ra-đi-ô để nghe tin tức ở tận Sài Gòn!

      Buổi trưa hôm ấy, ngày 11/11/1960, hai thầy giáo cùng đưa cả lớp tôi, thuê đò, vượt sông Ô-Lâu sang Lai Hà, tận Phong Chương, mục đích là để “giao lưu” với trường Công giáo Tam Giang bên ấy. Khi đến nơi, chúng tôi được cho ngồi trong một căn phòng lớn, nói là để đợi thầy giáo và học sinh bạn đến gặp gỡ. Nhưng chờ mãi vẫn không thấy gì, thầy Hương, thầy Bộ cùng vào phòng thầy hiệu trưởng, đóng kín cửa, biến mất, mãi vẫn không thấy trở ra dặn dò gì. Ở bên ngoài, chúng tôi nghe như có tiếng “xè xè” của một chiếc ra-đi-ô đang phát ở đâu đó. Trời đã về chiều, chúng tôi vẫn chờ mãi, ai nấy sốt ruột…

      Mãi cho tới chiều tối, khi lên lại đò trở về, thầy Bộ mới trang trọng báo tin vui cho học trò là Ngài Tổng Thống đã may mắn thoát nạn. Hóa ra, suốt cả  buổi chiều, hai thầy đã cùng với hiệu trưởng trường Tam Giang Lai Hà và các thầy giáo khác, đóng kín cửa phòng, hồi hộp nghe tin tức từ Sài Gòn qua chiếc ra-đi-ô, và bỏ mặc bọn học trò ngơ ngác không biết chuyện gì đang xảy ra! Đó là chuyến đi không chỉ đến Lai Hà mà …đến cả Sài Gòn!

      Sự kiện thứ hai là nhà trường cho tổ chức đêm văn nghệ cuối năm. Đó là một đêm văn nghệ đặc sắc với nội dung ca, múa, kịch khá phong phú, trong đó nỗi bật nhất là vở “kịch thơ” mang tên “Cô lái đò trên bến Ô-giang” ghi lại câu chuyện của chàng tráng sĩ Kinh Kha năm xưa, qua đò tìm diệt bạo chúa Tần Thủy Hoàng, khi trở lại bến sông xưa thì cô lái đò hò hẹn ngày nào đã không còn nữa, mà thay vào là một ông lão lái đò. Nàng đã vì chàng mà nhấn chìm con đò, theo lời ông lão kể lại, để cùng tìm cái chết với đám quân vô lại đang truy tìm chàng!

      Vở kịch ấy tôi được thủ vai chính là “tráng sĩ Kinh Kha”, một người bạn Đại Lộc trắng trẻo mảnh mai vào vai “cô lái đò” và một bạn nữa, vẻ người già dặn hơn, người Thế Chí đóng vai “lão lái đò”. Vở kịch dàn dựng câu chuyện đầy cảm động ấy cũng như toàn bộ chương trình đã gây tiếng vang lớn, đến nỗi sau đó, ủy ban xã Điền Lộc đã xin phép Cha cho về diễn lại một đêm tại sân trụ sở xã với đông đảo khán giả xã nhà.

      Hình ảnh chàng “tráng sĩ” oai phong với quân phục màu trắng, thắt lưng đỏ, đầu chít khăn đen và bao kiếm vàng bên hông, cùng những lời thơ bi tráng mà “chàng” thốt ra đã làm hình ảnh của tôi trên sân khấu nỗi bật lên một dáng vẻ hết sức thu hút, khiến hàng trăm con mắt, trong đó có đám học sinh trường Đại Lộc cũ của tôi, dõi theo không rời. Đó thật sự là một kỷ niệm khó quên trong đời học sinh!

      Nhưng đó cũng lại là kỷ niệm cuối cùng thời niên thiếu của tôi ở quê nhà, vì năm sau đó, Cha Kính vẫn chưa mở thêm được lớp Đệ Lục khiến tôi và cả bạn bè đều phải rời làng ra đi, mỗi đứa một nơi, mở đầu cho những hành trình lưu lạc xa quê với bao thăng trầm của đời học sinh và thời cuộc…

       Hơn hai mươi năm sau, có dịp trở về thăm lại “ngôi trường cũ”, thăm lại ngôi Nhà thờ giáo xứ Đại Lộc, hy vọng được gặp lại Cha và các thầy. Nhưng trước mắt tôi, tất cả đều đã hoang phế và vắng vẻ, tiêu điều. Dạo quanh một vòng, may mà còn gặp lại một người bạn học cũ cùng lớp tên Đông với cả một gia đình con cái cháu chắt đông đúc chưa từng thấy. Hỏi sao “đông” dữ vậy. Đông đáp: “Đơn giản thôi, vì luật Công giáo không cho phép... phá thai!”
 
      Rồi tình cờ tôi được nghe một người bạn học kể lại là đã gặp thầy Bộ ở đâu đó trong bộ quân phục Biệt Động phong trần với ba bông mai vàng trên vai áo. Còn thầy Hương thì lưu lạc về đâu không rõ. Tôi cũng đã vui mừng khi nghe tin cha Kính vẫn còn sống ở La Vang Quảng Trị. Tiếc rằng sau đó, chưa kịp tìm gặp thì Cha đã về với Chúa ở tuổi ngoài 90.
 
      Nhớ đến ngôi trường Tam Giang bé nhỏ của giáo xứ Đại Lộc cũng là nhớ đến Cha Kính, vị linh mục mà bọn học trò và con chiên vẫn hằng thương kính như cái tên của Cha vậy. Nhớ đến lớp học duy nhất ấy cũng là nhớ đến các thầy, nhớ đến đám bạn cùng thời: có người còn gặp lại, có người không, nhưng thời gian qua đi nhanh khiến tất cả nay đều đã ở cái tuổi “cổ lai hy”. Có người đã ra đi mãi mãi.

      Nhớ đến Cha Kính, tôi cũng không thể nào quên hình ảnh chiếc Mobylette mà Cha thường chạy trên đường Quan từ Đại Lộc lên Tháp Đôi, Tháp Một rồi quay về. Dạo ấy bọn con nít chúng tôi vẫn từng háo hức chạy ào xuống xóm để kịp “đón đầu” xe Cha, không chỉ để nghe được tiếng máy nổ “bình bịch” giòn giã của chiếc Mobylette, mà còn để hửi cái mùi xăng thơm phức quyện lên theo làn khói xám đằng sau khoảnh khắc lướt qua của xe Cha nữa!...     

     *Hoàng Vân (viết nhân ngày 20/11)

     *Ảnh minh họa: sưu tầm
 

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Lap nguyen Vào lúc 08:21 - 15/01/2018 Khong biet ban Hoàng van hoc lop nhi Tu nam nao ,minh cung hoc lop ba o truong Lang ke mon hoc cung mot lop voi Phien Phiet,Mao,Thac,Tieng ,chi Mai,Chot A,Chot B,Khuyen cut tay......nam lop Nhut minh hoc voi thay Dai va thay Tro o nha thay Tro roi di thi tieu hoc o Sia va dau vao truong Ham Nghi

Tin liên quan

Tin bài cũ

Video

Phản hồi mới

Liên kết website

Làng Kế Môn trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 10
Tổng truy cập: 506.001